Chương 15. Hydrogen và Pin Nhiên Liệu mình phụ trách biên soạn trong Chuyên Đề Năng Lượng của nhóm VnGG (2007).
***
“Tôi
tin rằng một ngày nào đó, nước sẽ được sử dụng như nhiên liệu, rằng
hydrogen và oxy, hai thành phần tạo nên nước, được sử dụng đơn lẻ hay
kết hợp, sẽ cung cấp một nguồn nhiệt và ánh sáng vô tận với mức độ mà
than đá không thể so sánh được. Tôi tin rằng khi các mỏ than cạn kiệt,
chúng ta sẽ sưởi ấm mình nhờ năng lượng từ nước. Nước sẽ là “than đá”
của tương lai.” Jules Vernes (1874).
Hơn một trăm
năm trước, Jules Verne trong cuốn tiểu thuyết viễn tưởng “Hòn đảo huyền
bí” đã từng dự báo rằng nước sẽ là nguồn năng lượng của tương lai, giống
như than đá đang thịnh hành thời bấy giờ vậy. Từ đó, một ý niệm đã được
gợi mở, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học về một nguồn năng
lượng lý tưởng, sạch và gần như vô tận cho con người: nước và một thành
phần của nó, hydrogen.
Ngày nay, điều tiên đoán năm xưa
đang dần trở thành hiện thực khi nhiều nước phát triển trên thế giới đã
bắt đầu hoạch định mục tiêu hướng đến nền kinh tế hydrogen (hydrogen
economy) trong chiến lược năng lượng của mình. Nền kinh tế hydrogen là
gì? Nó đem lại những lợi ích nào cho cuộc sống? Tiến trình đi đến một
nền kinh tế hydrogen có gặp những khó khăn cản trở nào không? Bài viết
này cố gắng giải đáp lần lượt phần nào các câu hỏi đó, từ khái quát sơ
lược các vấn đề kỹ thuật cơ bản, những công nghệ sản xuất, lưu trữ, ứng
dụng hydrogen cho đến những nỗ lực hiện nay trên toàn cầu nhằm hướng đến
viễn cảnh năng lượng sạch và bền vững trong tương lai.
1. Từ nền kinh tế dựa trên nhiên liệu hóa thạch đến nền kinh tế hydro
Như
đã đề cập ở các phần trước, thế giới chúng ta đang bị phụ thuộc nặng nề
vào một nền kinh tế nhiên liệu hóa thạch. Nhiên liệu của đa số các
phương tiện giao thông hiện tại: xe hơi, xe lửa, máy bay… là xăng dầu.
Hơn nữa, một tỉ lệ khá cao các nhà máy điện là nhiệt điện dùng dầu hỏa,
khí thiên nhiên hay than đá. Nếu không có nhiên liệu hóa thạch, nền kinh
tế cùng với các phương tiện giao thông liên lạc, vận tải, sẽ rơi vào
khủng hoảng, ngưng trệ. Gần như toàn bộ nền kinh tế, chính xác hơn là
toàn bộ xã hội hiện đại đã phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
Trong
khi nhiên liệu hóa thạch đóng một vài trò quan trọng trong việc đưa xã
hội đến mức phát triển như ngày nay thì nó cũng tồn tại những vấn đề
nhức nhối lớn: ô nhiễm không khí, các vấn đề môi trường như tràn dầu,
nguy hiểm và nóng bỏng hơn cả là vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu cùng
với sự nóng lên của trái đất. Ngoài ra, nhiên liệu hóa thạch chỉ là
nguồn tài nguyên hữu hạn không thể được tái tạo, và nền kinh tế dựa trên
nhiên liệu hóa thạch còn làm cho một số nước không có nhiều tài nguyên
sẽ bị phụ thuộc vào những nước vốn có nguồn dầu dồi dào ở vùng Trung
Đông, từ đó dẫn đến nhiều hệ quả chính trị và kinh tế khác, thậm chí cả
những cuộc chiến tranh giành dầu mỏ.
Giữa bối cảnh đó,
khái niệm về một nền kinh tế hydro dựa trên nguồn năng lượng sạch, dồi
dào phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của nhân loại xuất hiện như một
giải pháp đầy tiềm năng. “Nền kinh tế hydro” là một hệ thống lưu trữ,
phân phối và sử dụng năng lượng dựa trên nhiên liệu chính hydrogen.
Thuật ngữ này được tập đoàn General Motors đặt ra năm vào 1970. Nền kinh
tế hydrogen hứa hẹn đẩy lùi tất cả những vấn đề do nền kinh tế dựa trên
nhiên liệu hóa thạch đã gây ra.
Một cách tóm tắt, những lợi ích chính của nền kinh tế hydrogen là:
- Không gây ô nhiễm: khi hydrogen được sử dụng trong pin nhiên liệu, nó
là một công nghệ hoàn toàn sạch. Sản phẩm phụ duy nhất sinh ra là nước,
do đó sẽ không làm nảy sinh những vấn đề đáng lo ngại như tràn dầu ...
- Không thải ra khí gây hiệu ứng nhà kính: quá trình điện phân nước tạo
hydrogen không hề tạo nên khí nhà kính nào. Đó là một quá trình lý
tưởng và hoàn hảo – điện phân hydrogen từ nước, hydrogen lại tái kết hợp
với oxygen để tạo ra nước và cung cấp điện năng trong pin nhiên liệu.
- Không phụ thuộc về kinh tế: không dùng dầu mỏ cũng có nghĩa là không
phải phụ thuộc vào các thùng dầu nhập khẩu từ nước ngoài.
- Hydrogen có thể được sản xuất từ nhiều nguồn khác nhau: nhất là từ các nguồn năng lượng tái sinh.
Như
vậy, những lợi ích về mặt môi trường, kinh tế và xã hội của hydrogen là
rất đáng kể và ý nghĩa. Tất cả những thế mạnh này đã tạo nên cú hích
mạnh mẽ hướng nhân loại tiến đến nền kinh tế hydrogen.
2. Sản xuất hydrogen
Hydrogen
là nguyên tố phổ biến nhất, cấu thành đến 90% vật chất của vũ trụ (75%
theo trọng lượng). Mặt Trời, hầu hết các ngôi sao và một số hành tinh
như Jupiter ("sao" Mộc - hành tinh lớn nhất Thái Dương hệ) được tạo nên
chủ yếu bởi hydrogen. Phản ứng tổng hợp hạt nhân giữa các đồng vị của
hydrogen, deuterium và tritium đã cung cấp nguồn năng lượng khổng lồ cho
mặt trời và các ngôi sao, nhờ đó duy trì sự sống.
Hydrogen
là thành viên nhỏ nhất và có cấu trúc đơn giản nhất trong gia đình các
nguyên tố hóa học, chỉ gồm một proton và một electron. Phân tử hydrogen
chứa hai nguyên tử hydrogen, là khí không màu, không mùi, không vị, rất
dễ cháy. Hydrogen có trọng lượng nhỏ nhất trong các loại khí và hydrogen
dạng nguyên chất gần như không tồn tại trong tự nhiên.
Trên
Trái Đất, hydrogen phần lớn ở dạng kết hợp với oxygen trong nước, hay
với carbon và các nguyên tố khác trong vô số các hợp chất hữu cơ tạo nên
cơ thể mọi loài động thực vật. Khác với các nguồn năng lượng cơ bản (ví
dụ như dầu mỏ có thể bơm trực tiếp từ lòng đất lên rồi sử dụng),
hydrogen là nguồn năng lượng thứ cấp, tức là chúng không thể được khai
thác trực tiếp mà phải được tạo ra từ một nguồn sơ cấp ban đầu. Điều này
là một điểm bất lợi, nhưng đồng thời lại là điểm mạnh của hydrogen do
người ta có thể sản xuất khí hydrogen từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt
từ các nguồn năng lượng tái sinh.
Có ba phương pháp cơ bản tạo ra hydro:
+ Phương pháp chuyển hóa hydrocarbon (nhiên liệu hóa thạch, sinh khối) bằng nhiệt (Reforming)
+ Phương pháp điện phân nước (Electrolysis)
+ Phương pháp sinh học (Biological method)
2.1 Hóa nhiệt nhiên liệu hydrocarbon
a) Hóa nhiệt khí thiên nhiên với hơi nước (Natural gas steam reforming)
Quá trình này gồm hai bước chính.
Trước
hết, khí thiên nhiên (với thành phần chủ yếu là methane) được tách
carbon và chuyển hóa thành hydrogennhờ hơi nước dạng siêu nhiệt dưới áp
suất cao, xúc tác thích hợp ở nhiệt độ khoảng 900°C.
CH4 + H2O => CO + 3 H2 (15.1)
Carbon
mono-oxide sinh ra lại tiếp tục được phản ứng với hơi nước và xúc tác
chuyển hóa thành khí carbonic và tạo ra thêm khí hydrogen.
CO + H2O => CO2 + H2 (15.2)
Đây
là phương pháp công nghiệp phổ biến hiện nay để sản xuất hydrogen. Tuy
nhiên phương pháp này không được áp dụng để tạo một nguồn năng lượng mà
chỉ để cung cấp nguyên liệu cho các ngành hóa chất, phân bón, tinh lọc
dầu mỏ v.v
b) Khí hóa hydrocarbon nặng (Gasification heavy hydrocarbon)
Thuật
ngữ hydrocarbon nặng là để nói đến dầu mỏ và than đá. Than đá trước khi
khí hóa phải được nghiền thành dạng bột rồi hòa trộn với nước. Thông
thường, nhiên liệu được hóa nhiệt ở khoảng 14000C với oxygen hay không
khí (oxygen hóa không hoàn toàn), tạo ra hỗn hợp gồm hydrogen, carbon
mono oxide (CO) và vài sản phẩm phụ. CO sinh ra lại tiếp tục được phản
ứng với hơi nước và xúc tác chuyển hóa thành khí carbonic và tạo ra thêm
khí hydrogen, tương tự như bước thứ hai của quá trình hóa nhiệt khí
thiên nhiên.
Rõ ràng đây không phải là phương pháp tối
ưu. Bất lợi lớn nhất của nó là sử dụng nhiên liệu hóa thạch làm nguyên
liệu và đồng thời cũng làm nhiên liệu cung cấp nhiệt lượng cho quá
trình. Nhiên liệu hóa thạch là nguồn tài nguyên hữu hạn, thêm vào đó,
việc đốt chúng tạo ra khí carbonic gây hiệu ứng nhà kính. Do đó phương
pháp này xét về lâu dài không bền vững.
Tuy vậy, phương
pháp sản xuất khí hydrogen từ nhiên liệu hóa thạch đã và sẽ còn chiếm
ưu thế trong tương lai gần. Lý do chính yếu là do trữ lượng nhiên liệu
hóa thách còn tương đối dồi dào, nhất là đối với khí thiên nhiên. Hơn
nữa, những công nghệ này (phương pháp sản xuất hydrogen công nghiệp từ
khí thiên nhiên nói riêng và nhiên liệu hóa thạch nói chung) đã khá quen
thuộc trong công nghiệp hóa chất, trong khi cơ sở hạ tầng cho việc phát
triển sản xuất hydrogen từ các nguồn khác còn thiếu thốn. Vì vậy, một
khi nhiên liệu hóa thạch vẫn còn rẻ thì phương pháp này vẫn có chi phí
thấp nhất. Thêm vào đó, để hạn chế mặt tiêu cực này của nhiên liệu hóa
thạch, ta có thể dùng công nghệ tách khí carbonic rồi thu hồi và chôn
lấp chúng (Xem thêm Chương 13).
c) Quy trình hiện đại tạo ra hydrogen từ khí thiên nhiên mà không thải ra CO2
Từ
những năm 1980, Kværner - một tập đoàn dầu khí của Na Uy đã phát triển
công nghệ mang tên "Kværner Carbon Black and Hydrogen Process"
(KCB&H). Nhà máy đầu tiên dựa trên quy trình Kværner hiện đại này
đặt ở Canada và bắt đầu sản xuất vào tháng 6 năm 1999. Quy trình cung
plasma - Kværner ở nhiệt độ cao (16000C) tách hydrogen và than hoạt tính
từ hợp chất hydrocarbon như dầu mỏ hay khí thiên nhiên mà không thải ra
CO2.
Than đen tinh khiết này được dùng trong sản
xuất vỏ xe hơi và dùng như chất khử trong công nghiệp luyện kim. Nhờ một
số tính chất đặc biệt mà chúng còn có thể dùng để lưu trữ hydrogen (ống
carbonnano).
d) Khí hóa sinh khối và nhiệt phân (biomass gasification and pyrolysis)
Sinh
khối có thể được sử dụng để sản xuất hydrogen. Đầu tiên, sinh khối được
chuyển thành dạng khí qua quá trình khí hóa ở nhiệt độ cao có tạo ra
hơi nước. Hơi nước chứa hydrogen được ngưng tụ trong các dầu nhiệt phân
và sau đó có thể được hóa nhiệt để sinh ra hydrogen. Quá trình này
thường tạo ra sản lượng hydrogen khoảng từ 12%-17% trọng lượng hydrogen
của sinh khối. Nguyên liệu cho phương pháp này có thể gồm các loại mảnh
gỗ bào vụn, sinh khối thực vật, rác thải nông nghiệp và đô thị v.v. Do
các chất thải sinh học được sử dụng làm nguyên liệu như vậy, phương pháp
sản xuất hydrogen này hoàn toàn tái tạo được (renewable) và bền vững.
2.2. Điện phân nước
Phương
pháp này dùng dòng điện để tách nước thành khí hydrogen và oxygen. Quá
trình gồm hai phản ứng xảy ra ở hai điện cực. Hydrogen sinh ra ở điện
cực âm và oxygen ở điện cực dương:
Phản ứng trên cathode: 2 H2O + 2e- => H2 + 2 OH- (15.3)
Phản ứng trên anode: 2 OH- => H2O + ½ O2 + 2e- (15.4)
________________________________________________________
Tổng quát: 2 H2O + điện năng => 2 H2 + O2 (15.5)
Sau đây là một số các dạng điện phân phổ biến:
a) Điện phân thông thường
Quá
trình tiến hành với chất điện phân là nước hay dung dịch kiềm. Hai phần
ode và cathode được tách riêng bởi màng ngăn ion (microporous) để tránh
hòa lẫn hai khí sinh ra.
b) Điện phân nước áp suất cao
Điện
phân nước áp suất cao có thể sinh ra hydrogen ở áp suất đến 5 MPa. Quá
trình vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu và hoàn thiện dần.
c) Điện phân nước ở nhiệt độ cao
Ưu
điểm của phương pháp này là đưa một phần năng lượng cần thiết cho quá
trình điện phân ở dạng nhiệt năng, nhiệt độ 800-10000C vào quá trình, do
đó có thể hạn chế bớt lượng điện năng tiêu thụ. Nhiều nghiên cứu đã
hướng đến việc thu nhiệt từ các chảo parabol tập trung năng lượng mặt
trời hay tận dụng nhiệt thừa từ các trạm năng lượng.
d) Quang điện phân (photoelectrolysis)
Các
panel mặt trời, chất bán dẫn (ứng dụng hiện tượng quang điện), chuyển
hóa trực tiếp ánh sáng mặt trời thành điện năng. Khí hydrogen được sinh
ra khi dòng quang điện này chạy qua thiết bị điện phân đặt trong nước.
Sử dụng năng lượng mặt trời để tạo ra điện dùng trong điện phân nước,
tương tự, chúng ta cũng có thể sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo khác
như năng lượng gió, thủy điện để điện phân nước tạo ra hydrogen. Như
thế việc sản xuất hydrogen sẽ là một quá trình sạch (không khí thải),
tái sinh và bền vững.
2.3. Phương pháp sinh học
Một
số tảo và vi khuẩn chuyên biệt có thể sản sinh ra hydrogen như là sản
phẩm phụ trong quá trình trao đổi chất của chúng. Các sinh vật này
thường sống trong nước, phân tách nước thành khí hydrogenvà oxygen. Hiện
tại, phương pháp này vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu.
Ví
dụ của phương pháp này là việc ứng dụng một loại tảo đơn bào có tên
Chlamydomonas reinhardtii. Các nghiên cứu cho thấy loại tảo này chứa
enzyme hydrogenase có khả năng tách nước thành hai thành phần hydrogen
và oxygen. Các nhà khoa học đã xác định được cơ chế quá trình, điều này
có thể giúp mang lại một phương pháp gần như vô hạn để sản xuất hydrogen
sạch và tái sinh. Cơ chế này đã phát triển qua hàng triệu năm tiến hóa
giúp tảo tồn tại trong môi trường không có oxygen. Một khi ở trong chu
trình này, tảo "thở" bằng oxygen lấy từ nước và giải phóng ra khí
hydrogen.

Gần
đây, các nhà khoa học tại trung tâm năng lượng hydrogen của trường ĐH
tiểu bang Pennsylvania cũng đã nghiên cứu thành công phương pháp tạo ra
hydrogen từ quá trình vi khuẩn phân hủy các chất thải hữu cơ sinh học,
như nước thải sinh hoạt, nước thải nông nghiệp v.v. Ứng dụng nghiên cứu
này sẽ mở ra triển vọng to lớn đầy hữu ích, vừa kết hợp xử lý nước thải
và vừa sản xuất hydrogen cung cấp cho pin nhiên liệu vi khuẩn
(micro-fuel cell), tạo ra điện năng.
3. Lưu chứa hydrogen
Với
vai trò "chuyên chở" năng lượng (energy carrier) hơn là một nguồn năng
lượng cơ bản, giống như điện năng, hydrogen giúp cho việc phân phối, sử
dụng năng lượng được thuận tiện. Thêm vào đó, khác với điện năng,
hydrogen còn có thể lưu trữ được lâu dài. Về cơ bản có ba phương thức
lưu trữ hydrogen như sau:
(i) Lưu chứa hydrogen trong các bình khí nén áp suất cao.
(ii) Lưu chứa hydrogen dưới dạng khí hóa lỏng.
(iii)
Lưu chứa hydrogen trong hợp chất khác (hấp thụ hóa học, hấp phụ trong
hợp chất khác như với các hyđrua kim loại hay ống carbon nano rỗng).
3.1. Lưu chứa hydrogen dưới dạng khí nén
Hydrogen
có thể được nén trong các bình chứa với áp suất cao. Các loại bình chứa
khác nhau về cấu trúc tùy theo dạng ứng dụng đòi hỏi mức áp suất như
thế nào. Phần lớn các bình ứng dụng tĩnh có mức áp suất thấp hơn. Trong
khi đó, yêu cầu cho các ứng dụng di động lại khá khác biệt bởi sự hạn
chế về không gian lưu trữ. Đối với các ứng dụng này, áp suất trong bình
được tăng lên đến 700 bar để chứa được càng nhiều hydrogen càng tốt
trong một không gian giới hạn.
Các bình áp suất chứa
khí nén thường làm bằng thép nên rất nặng. Các bình áp suất hiện đại
được làm từ những vật liệu composite và nhẹ hơn nhiều.
3.2. Lưu chứa hydrogen dưới dạng khí hóa lỏng
Hydrogen
chỉ tồn tại ở thể lỏng dưới nhiệt độ cực lạnh, 200K hay âm 2350C. Nén,
làm lạnh (hóa lỏng) hydrogen tiêu tốn khá nhiều năng lượng, do đó tổn
thất năng lượng hao hụt đến khoảng 30% khi dùng phương pháp này. Tuy
nhiên, ưu điểm của việc lưu trữ hydrogen dưới dạng lỏng là tốn ít không
gian nhất, do hydrogen có tỉ trọng năng lượng theo thể tích cao nhất khi
hóa lỏng. Vì thế mà cách này đặc biệt thích hợp với các ứng dụng di
động như các phương tiện giao thông. Hiện tại người ta đã sản xuất được
những robot tự động để “tiếp” nhiên liệu (re-fuelling). Với các dạng lưu
trữ tĩnh, cách thức này chỉ được dùng khi hydrogen thực sự cần thiết
phải ở dạng lỏng, ví dụ như trong các trạm nhiên liệu hay khi cần vận
chuyển hydrogen đường dài (bằng tàu biển chẳng hạn). Ngoài ra, với tất
cả các ứng dụng khác ta nên tránh dùng cách lưu trữ này bởi sự tiêu tốn
khá nhiều năng lượng cần để hóa lỏng.
3.3. Lưu chứa hydrogen nhờ hấp thụ hóa học
Hydrogen
có thể được giữ trong nhiều hợp chất nhờ liên kết hóa học. Và khi cần
thiết, phản ứng hóa học sẽ xảy ra để giải phóng chúng, sau đó hydrogen
được thu thập và đưa vào sử dụng trong pin nhiên liệu. Các phản ứng hóa
học thay đổi tủy theo hợp chất dùng để lưu trữ hydrogen. Ví dụ như: với
NH3BH3, hydrogen được giải phóng nhờ nhiệt ở 100-3000C; hay hydrogen có
thể được giải phóng qua quá trình thủy phân (tác dụng với nước) của các
hydride như LiH, LiBH4, NaBH4... Với phương pháp này, ta có thể điều
chỉnh được lượng hydrogen sinh ra theo nhu cầu.
3.4. Lưu chứa hydrogen trong các hyđrua kim loại (metal hydride)
Phương
pháp này sử dụng một số hợp kim có khả năng độc đáo, có thể hấp phụ
hydrogen. Các hợp kim này hoạt động giống như miếng xốp có thể hút nước
vậy, chúng “hút bám” hydrogen, tạo nên các hyđrua kim loại. Khi một
hyđrua kim loại được “lấp kín” dần với các nguyên tử khí hydrogen, nó sẽ
tỏa nhiệt, do đó, khi muốn giải phóng hydrogen, ta sẽ phải cung cấp
nhiệt cho nó.
Công thức tổng quát của quá trình hấp phụ và nhả hấp hyđrua kim loại:
M + xH2 <=> MH2x (15.6)
Phương
pháp này có thể chứa được một lượng rất lớn thể tích khí hydrogenhấp
phụ vào kim loại. Tuy nhiên, lượng hydrogen hấp phụ chỉ chiếm khoảng 1% -
2% tổng trọng lượng bình chứa (kim loại). Vì thế mà các bình chứa dạng
này khá nặng và vì vậy chúng không thể sử dụng trong các ứng dụng di
động.
Ưu điểm của phương pháp này là hầu hết các hyđrua
kim loại có thể hoạt động ở áp suất bình thường, do đó xét về mặt sử
dụng và an toàn, đây là những điểm thuận lợi của việc lưu trữ hydrogen
nhờ các hyđrua kim loại. Muốn giải phóng khí hydrogen cần cung cấp
nhiệt, vì thế, trường hợp các thùng chứa bị bể vỡ chẳng hạn thì hydrogen
vẫn giữ kết nối trong kim loại mà không bị hao hụt.
Lưu trữ hydrogen bằng các hyđrua kim loại hiện nay đang được ứng dụng nhiều trong các tàu ngầm.
3.5. Lưu chứa hydrogen trong ống carbon nano rỗng
Phương
pháp này về nguyên tắc tương tự như hyđrua kim loại trong cơ chế lưu
giữ và giải phóng hydrogen. Vật liệu carbon nano này có thể tạo nên một
cuộc cách mạng trong công nghệ lưu trữ hydrogen trong tương lai. Cách
đây vài năm, các nhà khoa học đã khám phá được đặc tính hữu ích của
carbon nano là có thể chứa được những lượng lớn hydrogen trong các vi
cấu trúc than chì dạng ống. Hydrogen có thể chui vào trong ống, cũng như
vào khoảng trống giữa các ống. Lượng hydrogen hấp thụ phụ thuộc vào áp
suất và nhiệt độ, nên về nguyên tắc, người ta có thể thay đổi áp suất
hoặc nhiệt độ, rồi bơm hydrogen vào để lưu trữ, hay đẩy hydrogen ra để
sử dụng. Vấn đề hiện nay là phải tìm ra các loại ống nano carbon chứa
được nhiều hydrogen. Ngoài ra, ta cũng cần vật liệu với tỷ lệ ống nano
carbon cao, không lẫn với nhiều loại bụi than khác.
Ưu
điểm mang tính đột phá của công nghệ nano này chính là lượng lớn
hydrogen mà nó có thể lưu chứa được, hơn nữa, so với cách lưu trữ bằng
hợp kim thì ống carbon nano cũng nhẹ hơn. Ống carbon nano có thể chứa
được lượng hydrogen chiếm từ 4% - 65% trọng lượng của chúng. Hiện nay,
công nghệ này đang được quan tâm nghiên cứu rất nhiều trên thế giới, hứa
hẹn một phương thức lưu trữ hydrogen đầy tiềm năng, nhất là cho các ứng
dụng pin nhiên liệu di động và nhỏ gọn như máy tính xách tay, máy ảnh,
điện thoại di động...v.v.
Ngoài ra, còn một phương pháp
lưu trữ hydrogen khác tuy ít phổ biến nhưng cũng khá thú vị, đó là chứa
hydrogen trong các vi cầu bằng kính.
3.6. Lưu chứa hydrogen trong các vi cầu thủy tinh (glass microsphere)
Các
khối cầu thủy tinh rỗng tí hon có thể được dùng như một phương thức lưu
trữ hydrogen an toàn. Những vi cầu rỗng này được làm nóng dẻo, gia tăng
khả năng thấm của thành thủy tinh, rồi được lấp đầy khi được đặt ngập
trong khí hydrogen với áp suất cao. Các khối cầu này sau đó được làm
nguội, "khóa lại" hydrogen bên trong khối thủy tinh. Khi ta tăng nhiệt
độ, hydrogen sẽ được giải phóng ra khỏi khối cầu và sử dụng. Phương pháp
vi cầu này rất an toàn, tinh khiết và có thể chứa được hydrogen ở áp
suất thấp, vì thế gia tăng giới hạn an toàn.
4. Vấn đề an toàn
Hydrogen
là khí không màu, không mùi, không vị và rất hoạt động. Khi hydrogen
cháy nó mang mối nguy hiểm tiềm ẩn bởi ngọn lửa của nó không thể nhận
thấy bằng mắt thường. Do đó nó có thể lan đi mà người ta không thể nhận
biết để cảnh báo. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, hydrogen cháy an
toàn hơn các nhiên liệu hóa thạch thông thường. Hydrogen có tốc độ bừng
cháy rất cao và tiêu tán mau. Do đó, những vụ cháy, thậm chí bắt nguồn
từ hydrogen lỏng, thường bùng lên rất nhanh rồi hết. Theo tính toán của
các nhà khoa học cho thấy ở một vụ cháy xe cộ liên quan đến xăng dầu,
đám cháy có thể kéo dài hai mươi đến ba mươi phút, trong khi đó, ngọn
lửa từ đám cháy của chiếc xe chạy bằng lượng hydrogen tương đương chỉ
kéo dài từ một đến hai phút!
Hydrogen khi bị đốt cháy
sinh ra nhiệt và hơi nước. Do không có carbon, hơn nữa hơi nước lại là
chất hấp thụ nhiệt nên hydrogen cháy tỏa nhiệt ít hơn nhiều so với khi
các hydrocarbon cháy và đám cháy không lan đi, chỉ có những vật trực
tiếp bị đốt dưới ngọn lửa đó mới bị cháy nặng. Những vật khác ở gần ngọn
lửa sẽ khó mà tự bắt cháy được. Vì thế mà mối nguy hiểm về khói độc và
việc cháy lan kéo dài đối với hydrogen đã được giảm đi đáng kể. Điều này
có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề cứu hỏa.
Tỉ
trọng thấp và khả năng khuếch tán nhanh cho phép hydrogen thoát nhanh
vào khí quyển nếu như có sự rò rỉ xảy ra. Trong khi đó, propane và xăng
dầu, với tỉ trọng cao và khả năng khuếch tán thấp, dễ tụ lại gần mặt
đất, làm gia tăng rủi ro cháy nổ. Hydrogen phải đạt đến nồng độ 4% trong
khí quyển mới gây nguy hiểm, khi đó khả năng bắt lửa của hydrogen sẽ
tăng lên nhanh. Mặc dù nồng độ 4% xem như không cao, nhưng nếu so sánh
với nồng độ cần đạt để bốc cháy của xăng dầu chỉ có 1%, hydrogen cho
thấy mức rủi ro cháy nổ thấp hơn đáng kể.
Hydrogen
không độc và không ăn mòn. Xăng và dầu rất độc với con người và sinh vật
nếu như vô tình chúng bị rò rỉ ra môi trường bên ngoài. Trong khi đó,
nếu hydrogen bị thoát ra, chúng sẽ bay hơi gần như hoàn toàn và chỉ để
lại nước đằng sau.
5. Ứng dụng nhiên liệu hydrogen
Chúng
ta đã khá quen thuộc với hình ảnh hydrogen như là nguyên liệu cho nhiều
ngành công nghiệp hóa học: chế tạo ammonia, methanol, lọc dầu, phân
bón, luyện kim, mỹ phẩm, chất bán dẫn v.v. Thế nhưng, không chỉ có vậy,
hydrogen còn là một nguồn nhiên liệu đầy tiềm năng với nhiều ưu điểm
thuận lợi về môi trường và kinh tế. Hydrogen là nguồn năng lượng sạch,
gần như không phát thải khí ô nhiễm mà chỉ sinh ra hơi nước. Từ nước qua
quá trình điện phân ta lại có thể thu được hydrogen. Vì vậy, hydrogen
là nguồn năng lượng gần như vô tận hay có thể tái sinh được. Hơn nữa,
xét về mặt trọng lượng, hydrogen có tỉ trọng năng lượng cực kỳ cao. Trên
thực tế, nhờ hai đặc tính nhẹ và tỉ trọng năng lượng cao này, hydrogen
đã được dùng làm nhiên liệu cho tên lửa từ những buổi ban đầu của công
nghệ du hành không gian.


Khi dùng làm nhiên liệu, hydrogen có thể được đốt trực tiếp trong các
động cơ đốt trong, tương tự như trong các loại phương tiện giao thông
chạy bằng xăng dầu phổ biến hiện nay. Hydrogen cũng có thể thay thế khí
thiên nhiên để cung cấp năng lượng cho các nhu cầu dân dụng hàng ngày
như đun nấu, sưởi ấm, chiếu sáng...v.v.
Mặt khác,
hydrogen còn có thể được sử dụng làm nguồn năng lượng cung cấp cho hệ
thống pin nhiên liệu, nhờ quá trình điện hóa để tạo ra điện năng. Bên
cạnh những ưu điểm của hydrogen như đã nêu trên (sạch, tái sinh...), pin
nhiên liệu còn chạy rất êm, không gây ra tiếng động, chấn động như động
cơ đốt trong. Do dựa trên cơ chế của quá trình điện hóa tạo ra điện
năng chứ không phải quá trình đốt như ở động cơ đốt trong, pin nhiên
liệu còn đạt hiệu suất sử dụng cao hơn nhiều so với động cơ đốt trong,
vì thế mà tiết kiệm năng lượng hơn. Với những ưu thế vượt trội đó, pin
nhiên liệu đang ngày càng được quan tâm và dự đoán sẽ trở nên nguồn
nhiên liệu đầy triển vọng, một thành phần chủ chốt của nền kinh tế
hydrogen trong viễn cảnh tương lai.
6. Pin nhiên liệu
Trong
khi thế kỉ 19 được mệnh danh là thế kỉ của động cơ hơi nước và thế kỉ
20 là thế kỉ của động cơ đốt trong thì ta có thể nói, thế kỉ 21 sẽ là kỉ
nguyên của pin nhiên liệu. Pin nhiên liệu hiện nay đang dần được phổ
biến trên thị trường, dự đoán sẽ tạo nên cuộc cách mạng năng lượng trên
thế giới trong tương lai. Pin nhiên liệu có thể sử dụng hydrogen làm
nhiên liệu, mang đến triển vọng cung cấp cho thế giới một nguồn điện
năng sạch và bền vững.
Tương tự như ắc quy, pin nhiên
liệu là một thiết bị tạo ra điện năng thông qua cơ chế phản ứng điện
hóa. Điểm khác biệt nằm ở chỗ, pin nhiên liệu có thể tạo ra dòng điện
liên tục khi có một nguồn nhiên liệu cung cấp cho nó, trong khi đó, ắc
quy cần phải được nạp điện lại (sạc) sau một thời gian sử dụng. Vì thế
mà pin nhiên liệu không chứa năng lượng bên trong, nó chuyển hóa trực
tiếp nhiên liệu thành điện năng, trong khi ắc quy cần phải được nạp điện
lại từ một nguồn bên ngoài.
Mỗi
pin nhiên liệu gồm có hai điện cực âm (cathode) và dương (anode). Phản
ứng sinh ra điện năng xảy ra tại hai điện cực này. Giữa hai điện cực còn
chứa chất điện phân, vận chuyển các hạt điện tích từ cực này sang cực
khác, và chất xúc tác nhằm làm tăng tốc độ phản ứng. Các module pin
nhiên liệu thường kết nối với nhau, song song hay trực tiếp để tạo ra
các thiết bị có mức công suất phát điện khác nhau và lớn hơn.
Hai
nhiên liệu cơ bản cần thiết cho pin nhiên liệu vận hành chỉ đơn giản là
hydrogen và oxygen. Lợi thế hấp dẫn của pin nhiên liệu là ở chỗ nó tạo
ra dòng điện sạch, rất ít ô nhiễm, do sản phẩm phụ của quá trình phát
điện cuối cùng chỉ là nước, không hề độc hại.
Các phản
ứng hóa học tạo ra dòng điện chính là chìa khóa trong cơ chế hoạt động
của pin nhiên liệu. Có nhiều loại pin nhiên liệu và mỗi kiểu vận hành
một cách khác nhau nhưng cùng chung nguyên tắc cơ bản. Khi những nguyên
tử hydrogenđi vào pin nhiên liệu, phản ứng hóa học xảy ra ở anode sẽ lấy
đi electron của chúng. Những nguyên tử hydrogenl úc này bị ion hóa và
mang điện tích dương. Electron điện tích âm sẽ chạy qua dây dẫn tạo ra
dòng điện một chiều.
Oxygen đi vào cathode và, trong
một số dạng pin nhiên liệu, chúng sẽ kết hợp với các electron từ dòng
điện và những ion hydrogen vừa đi qua chất điện phân từ anode; ở một số
dạng pin nhiên liệu khác, oxygen lấy electron rồi đi qua chất điện phân
đến anode, gặp và kết hợp với các ion hydrogen tại đó.
Chất
điện phân đóng vai trò quyết định chủ chốt. Nó phải chỉ cho phép những
ion thích hợp đi qua giữa anode và cathode; vì nếu electron tự do hay
các chất khác cũng có thể đi qua chất điện phân này, chúng sẽ làm hỏng
các phản ứng hóa học.
Dù cùng gặp ở anode hay cathode,
kết hợp với nhau, hydrogen và oxygen cuối cùng cũng tạo ra nước, thoát
ra khỏi pin. Pin nhiên liệu sẽ liên tục phát điện khi vẫn được cung cấp
hydrogen và oxygen. Dưới đây là sơ đồ mô tả hai phản ứng cơ bản trong
pin nhiên liệu mà phản ứng tồng quát của chúng chính là phản ứng nghịch
của quá trình điện phân nước:
Phản ứng trên anode: 2 H2 => 4 H+ + 4e- (15.7)
Phản ứng trên cathode: O2 + 4 H+ + 4e- => 2 H2O (15.8)
__________________________________________________________
Tổng quát: 2 H2 + O2 => 2 H2O + năng lượng (điện) (15.9)
Phản
ứng hóa học tổng quát cho pin nhiên liệu còn tương tự như phản ứng hóa
học mô tả quá trình hydrogen bị đốt cháy với sự hiện diện của oxy, tức
cũng là sự kết hợp giữa khí hydrogenvà oxygen tạo nên năng lượng; điểm
làm nên sự khác biệt quan trọng giữa hai quá trình đó nằm ở cơ chế phản
ứng - phản ứng cháy tạo ra nhiệt trong khi phản ứng điện hóa của pin
nhiên liệu sinh ra điện năng. Pin nhiên liệu chuyển đổi trực tiếp hóa
năng thành điện năng, quá trình này không liên quan đến sự chuyển hóa
nhiệt thành cơ năng nên không phải là đối tượng của định luật nhiệt động
lực học giới hạn hiệu suất tối đa của các động cơ nhiệt thông thường
(Carnot) . Do đó, hiệu suất pin nhiên liệu có thể vượt được giới hạn
Carnot, thậm chí ngay cả khi vận hành ở nhiệt độ tương đối thấp.
7. Các loại pin nhiên liệu
Pin
nhiên liệu cũng có một số kiểu khác nhau, chủ yếu ở chất điện phân mà
chúng sử dụng. Trong khi có chất chỉ cho phép proton (H+) đi qua thì có
chất khác chỉ cho các phân tử phức tạp đi xuyên qua màng. Các chất điện
phân chúng sử dụng cũng được lấy làm tên gọi để phân biệt các dạng pin
nhiên liệu khác nhau, ví dụ như: AFC - pin nhiên liệu kiềm, PEMFC - pin
nhiên liệu màng trao đổi proton), PAFC - pin nhiên liệu axit
phosphoric, MCFC – pin nhiên liệu muối carbonate nóng chảy, SOFC – pin
nhiên liệu oxit rắn… Mỗi dạng pin nhiên liệu có chế độ vận hành và những
ứng dụng khác nhau sẽ được lần lượt giới thiệu dưới đây.
a) AFC (Alkaline Fuel Cell) - pin nhiên liệu alkali (kiềm).
Pin
nhiên liệu alkali (kiềm) vận hành với khí hydrogen nén và oxy, dùng
dung dịch kiềm KOH làm chất điện phân. Hiệu suất pin khoảng 70%, và hoạt
động ở từ 150 đến 200 độ C. Công suất đầu ra khoảng từ 300W đến 5kW. Do
nhỏ, nhẹ, hiệu suất cao nên phần lớn loại pin nhiên liệu alkali này
thường được dùng trong các phương tiện xe cộ, giao thông.
Phản ứng trên anode: 2 H2 + 4 OH- => 4 H2O + 4e- (15.10)
Phản ứng trên cathode: O2 + 2 H2O + 4e- => 4 OH- (15.11)
________________________________________________________
Tổng quát: 2 H2 + O2 => 2 H2O + năng lượng (điện) (15.12)
Pin
nhiên liệu alkali đã từng được NASA chọn sử dụng trong các chương trình
không gian như đội tàu Con Thoi và các phi thuyền Apollo, chủ yếu bởi
vì năng lượng sinh ra đạt hiệu suất đến 70%. Điều thú vị là, không chỉ
cung cấp năng lượng dưới dạng điện năng, pin nhiên liệu alkali còn cung
cấp nước uống cho các phi hành gia. Nó đòi hỏi nhiên liệu hydrogen tinh
khiết và chất xúc tác điện cực bằng Platin (bạch kim). Vì thế mà pin
nhiên liệu alkali vẫn còn khá đắt đỏ để thương mại hóa cho các sản phẩm
thông thường. Tuy nhiên, một số công ty đang tìm cách giảm giá thành và
tăng tính đa dụng của loại pin nhiên liệu này.
Tháng
7/1998, công ty “xe cộ không phát thải” ZEVCO (the Zero Emission
Vehicle Company) đã tung ra chiếc taxi mẫu đầu tiên tại London nước Anh .
Chiếc taxi sử dụng một bộ pin nhiên liệu alkali 5kW, chất xúc tác
cobalt được thay cho bạch kim (platin) để giảm chi phí, xe chạy không
sinh ra khí độc và vận hành rất êm, gần như không gây tiếng động như
những taxi chạy bằng động cơ đốt trong thông thường.
b) MCFC (Molten Carbonate Fuel Cell) - pin nhiên liệu muối carbonate nóng chảy.
MCFC
dùng các muối carnonate của Na và Mg ở nhiệt độ cao làm chất điện phân.
Hiệu suất pin đạt từ 60 đến 80%, vận hành ở nhiệt độ khoảng 6500C. Các
đơn vị có công suất đầu ra 2 MW được kết hợp với nhau và có thể thiết kế
cho công suất đến 100 MW. MCFC dùng chất xúc tác điện cực nikel nên
không đắt lắm so với xúc tác điện cực bạch kim của AFC. Tuy nhiên, nhiệt
độ cao cũng có mặt hạn chế về vật liệu và an toàn. Bên cạnh đó, ion
carbonate từ chất điện phân sẽ bị sử dụng hết trong phản ứng, đòi hỏi
phải tiếp thêm khí carbonic bù vào.
Phản ứng trên anode: CO32- + H2 => H2O + CO2 + 2e- (15.13)
Phản ứng trên cathode: CO2+ ½ O2 + 2e- => CO32- (15.14)
____________________________________________________________________
Tổng quát: H2(k) + ½ O2(k) + CO2 (cathode) => H2O(k) + CO2 (anode)+ điện năng (15.15)

Pin
nhiên liệu MC vận hành ở nhiệt độ khá cao, vì thế đa số các ứng dụng
của nó là các nhà máy, trạm phát điện lớn (ứng dụng tĩnh). Nhiệt độ cao
của quá trình vận hành có thể được tận dụng tạo nên thêm một nguồn năng
lượng bổ sung từ nhiệt thừa để sưởi ấm, dùng cho các quá trình công
nghiệp hay động cơ hơi nước sinh ra thêm điện năng. Nhiều nhà máy nhiệt
điện chạy bằng gas đã áp dụng hệ thống này, gọi là cogeneration (phát
điện kết hợp). Nhật Bản, Hoa Kỳ đã ứng dụng công nghệ này, xây dựng các
nhà máy điện pin nhiên liệu MC từ thập kỉ 90 của thế kỉ trước.
c) PAFC (Phosphoric Acid Fuel Cell) – pin nhiên liệu axit phosphoric.
PAFC
dùng axit phosphoric làm chất điện phân, cơ chế phản ứng như sơ đồ
(15.7)-(15.9). Hiệu suất pin có thể đạt từ 40 đến 80%, và nhiệt độ vận
hành nằm trong khoảng 150 đến 200 độ C. Các pin nhiên liệu PAFC hiện tại
có công suất đến 200 kW, và thậm chí 11 MW đã được thử nghiệm. PAFC có
thể chịu được nồng độ CO khoảng 1,5%, do đó mở rộng khoảng chọn lựa loại
nhiên liệu mà chúng có thể sử dụng. PAFC đòi hỏi điện cực bạch kim, và
các bộ phận bên trong phải chống chịu được ăn mòn axit.
PAFC
được phát triển, kiểm tra thực nghiệm từ giữa thập kỉ 60 và 70 của thế
kỉ trước, là dạng pin nhiên liệu đầu tiên được thương mại hóa trên thị
trường nên đến ngày nay PAFC đã có được nhiều cải tiến đáng kể nhằm giảm
chi phí và tăng tính ổn định, chất lượng hoạt động. Hệ thống PAFC
thường được cài đặt cho các tòa nhà, khách sạn, bệnh viện, các thiết bị
điện (các ứng dụng tĩnh tương đối lớn) và công nghệ này đã được phổ biến
ở Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ.
d) PEMFC (Proton Exchange Membrane Fuel Cell) – pin nhiên liệu màng trao đổi proton.
PEMFC,
(còn gọi là “Polymer Electrolyte Membrane Fuel Cell” - pin nhiên liệu
màng điện phân polymer) có cơ chế phản ứng như sơ đồ (15.7)-(15.9). Pin
nhiên liệu PEM hoạt động với một màng điện phân bằng plastic mỏng. Hiệu
suất pin từ 40 đến 50%, và vận hành ở nhiệt độ thấp, chỉ chừng 800C.
Công suất dòng ra khá linh hoạt có thể chỉ là 2 kW cho các ứng dụng nhỏ,
di động hay cả trong khoảng từ 50 đến 250 kW cho các ứng dụng tĩnh lớn
hơn. Vận hành ở nhiệt độ thấp nên PEM thích hợp cho các ứng dụng trong
gia đình và xe cộ. Tuy nhiên, nhiên liệu cung cấp cho PEM đòi hỏi phải
được tinh sạch (không lẫn nhiều tạp chất) và PEM cũng cần xúc tác bạch
kim đắt tiền ở cả hai mặt màng điện phân, gia tăng chi phí.
PEMFC
lần đầu tiên được sử dụng vào thập kỉ 60 của thế kỉ trước trong chương
trình không gian Gemini của NASA, đến nay pin nhiên liệu PEM đã được
phát triển với những hệ thống công suất thông thường từ 1 W đến 2 kW.
Người ta tin rằng PEMFC sẽ là dạng pin nhiên liệu thích hợp nhất cung
cấp năng lượng cho các xe cộ, phương tiện giao thông, và cuối cùng về
lâu dài sẽ thay thế các động cơ đốt trong chạy bằng xăng dầu, diesel. So
với các dạng pin nhiên liệu khác, PEMFC sinh ra nhiều năng lượng hơn
với cùng một thể tích hay khối lượng nhiên liệu cho trước. Hơn nữa,
nhiệt độ vận hành dưới 1000C cho phép khởi động nhanh. Những ưu điểm này
cùng với khả năng thay đổi linh hoạt, nhanh chóng công suất đầu ra đã
làm cho pin nhiên liệu PEM trở thành ứng cử viên hàng đầu cho các loại
xe hơi hay những ứng dụng di động khác như máy tính xách tay…v.v.

Mặt
khác, do chất điện phân là vật liệu rắn (màng), chứ khôn phải là chất
lỏng như những dạng pin nhiên liệu khác, việc nút kín các khí phát ra từ
điện cực cũng đơn giản hơn và do đó làm giảm chi phí sản xuất. Màng
điện phân rắn cũng ít gặp khó khăn trong khi vận hành, ít bị ăn mòn hơn
so với các dạng chất điện phân khác, dẫn đến kéo dài tuổi thọ của pin
hơn.
e) SOFC (Solid Oxide Fuel Cell) – pin nhiên liệu oxit rắn
SOFC
sử dụng một hợp chất oxit kim loại rắn (như calcium hay zỉconium) làm
chất điện phân. Hiệu suất đạt được khoảng 60% và vận hành ở nhiệt độ từ
6000C đến cả 10000C. Được phát triển từ cuối những năm 50 của thế kỉ
trước, đây là dạng pin nhiên liệu vận hành ở nhiệt độ cao nhất hiện nay.
Nhiệt độ cao cho phép pin có thể sử dụng được nhiều loại nhiên liệu đầu
vào, như khí thiên nhiên, sinh khối hydrocarbon (trích xuất lấy
hydrogen trực tiếp mà không cần phải qua chuyển hóa nhiệt). Công suất
đầu ra của pin đến 100 kW. Vận hành ở nhiệt độ cao như vậy, chất điện
phân là vật liệu oxit rắn, mỏng và cho phép ion oxygen (O2-) đi qua.
Phản ứng trên anode: 2 H2 + 2 O2- => 2 H2O + 4 e- (15.16)
Phản ứng trên cathode: O2 + 4e- => 2 O2- (15.17)
__________________________________________________________
Tổng quát: 2 H2 + O2 => 2 H2O + năng lượng (điện) (15.18)
Cũng
giống như pin nhiên liệu muối carbon nóng chảy, do vận hành ở nhiệt độ
khá cao như vậy nên dạng pin nhiên liệu này thường ứng dụng giới hạn
trong các hệ thống tĩnh khá lớn và nhiệt thừa có thể được tái tận dụng
để tạo thêm nguồn điện bổ sung.
5 dạng pin nhiên liệu
trên đã được ứng dụng trên thực nghiệm từ lâu. Ngoài ra, một số dạng pin
nhiên liệu khác hứa hẹn nhiều triển vọng vẫn đang còn trong những bước
đầu giai đoạn nghiên cứu cũng sẽ được tiếp tục giới thiệu dưới đây.
f) DMFC (Direct Methanol Fuel Cell) – pin nhiên liệu dùng methanol trực tiếp
Dù
công nghệ vẫn mới chỉ chập chững ở những bước ban đầu nhưng đã thể hiện
được một số thành công trong những ứng dụng như điện thoại di động và
máy tính xách tay (laptop), đem lại triển vọng đầy tiềm năng cho tương
lai. DMFC tương tự như PEMFC ở chỗ chất điện phân là polymer và điện
tích vận chuyển là ion hydrogen (proton). Tuy nhiên, với DMFC, methanol
lỏng (CH3OH) bị oxygen hóa trong nước ở anode, sinh ra khí carbonic, ion
hydrogen đi qua chất điện phân và phản ứng với oxygen từ không khí và
các electron từ dòng điện tạo thành nước ở anode, hoàn thành chu trình.
Phản ứng trên anode: CH3OH + H2O => CO2 + 6 H+ + 6e- (15.19)
Phản ứng trên cathode: 3/2 O2 + 6 H+ + 6e- => 3 H2O (15.20)
____________________________________________________________________
Tổng quát: CH3OH + 3/2 O2 => CO2 + 2 H2O + năng lượng (điện) (15.21)
Khi
mới bắt đầu phát triển từ đầu những năm 90 của thế kỉ trước, DMFC lúc
ấy chưa được chú ý nhiều bởi hiệu suất và mật độ năng lượng thấp cũng
như một số vấn đề khác. Tuy nhiên những cải tiến trong chất xúc tác và
những phát triển gần đây đã gia tăng mật độ năng lượng lên gấp 20 lần và
hiệu suất cuối cùng đã có thể đạt được đến 40%.
DMFC
đã được thử nghiệm ở khoảng nhiệt độ từ 500C-1200C. Với nhiệt độ vận
hành thấp và không đòi hỏi phải qua bước chuyển hóa thành hydrogen mà có
thể dung trực tiếp nhiên liệu methanol, DMFC trở thành ứng cử viên sáng
giá cho các ứng dụng cỡ từ rất nhỏ đến trung bình như điện thoại di
động và các sản phẩm tiêu dùng khác.
Một trong những
nhược điểm của DMFC đó là nhiệt độ vận hành thấp đòi hỏi chất xúc tác
phải hiệu lực hơn, có nghĩa lượng xúc tác bạch kim đắt đỏ cần dùng cũng
lớn hơn so với dạng PEMFC thông thường. Ngoài ra, methanol còn là một
chất độc. Vì thế mà một số công ty đã bắt tay vào việc phát triển các
pin nhiên liệu sử dụng ethanol trực tiếp (DEFC – direct ethanol fuel
cell). Hiệu suất của DEFC hiện nay mới chỉ khoảng một nửa so với DMFC,
nhưng dự đoán khoảng cách này sẽ ngày càng được rút ngắn trong tương
lai.
g) RFC (Regenerative Fuel Cell) – pin nhiên liệu tái sinh.
RFC
là một hệ thống vận hành thành một chu trình kín và có thể trở thành
nền tảng cơ bản cho nền kinh tế hydrogen dựa trên các nguồn năng lượng
tái tạo. Pin nhiên liệu sinh ra điện năng, nhiệt và nước từ hydrogen và
oxygen sẽ được sử dụng khắp nền kinh tế, cung cấp năng lượng cho các nhà
máy, xe cộ, phương tiện giao thông vận chuyển và cho các nhu cầu dân
dụng của hộ gia đình. Hydrogen được sinh ra từ điện phân nước, tách nước
thành hai thành phần hydrogen và oxy; quá trình sử dụng năng lượng tái
tạo từ các nguồn tự nhiên như gió, mặt trời hay địa nhiệt.
Một
hệ thống như vậy sẽ không đòi hỏi bất cứ dạng pin nhiên liệu chuyên
biệt nào, nhưng sẽ cần có một cơ sở hạ tầng để phân phối hydrogen đến
các pin nhiên liệu để sử dụng. Tuy nhiên hiện tại chúng ta vẫn chưa có
được một cơ sở hạ tầng để phân phối hydrogen như vậy.
NASA
đang tiến hành dự án phát triển một hệ thống pin nhiên liệu tái sinh
nhẹ và hiệu quả để sử dụng trên chiếc máy bay tên là Helios có thể bay ở
độ cao hơn 30 km. Chiếc máy bay trước đây chạy bằng các panel năng
lượng mặt trời. Mục tiêu của dự án là tích hợp cả hai hệ thống năng
lượng mặt trời và pin nhiên liệu tái sinh.
Hệ thống pin
mặt trời sẽ cung cấp năng lượng cho máy bay suốt ban ngày và sinh ra
nguồn hydrogen bổ sung, hydrogen được lưu trữ để cung cấp cho pin nhiên
liệu sử dụng vào ban đêm. Một hệ thống như vậy dùng hoàn toàn năng lượng
sạch và bền vững, có thể giúp chuyến bay kéo dài được trong nhiều
ngày.
h) ZAFC (Zinc-Air Fuel Cell) – pin nhiên liệu kẽm/không khí
ZAFC
vừa có những đặc tính của pin nhiên liệu vừa mang những tính chất của
pin ắc quy. Chất điện phân trong ZAFC là chất sứ rắn dùng ion hydroxyl
(OH-) làm chất mang điện tích. Để đạt được hiệu suất điện/nhiên liệu cao
vớI các nhiên liệu hydrocarbon và một độ dẫn cao cho chất mang điện
tích, ZAFC vận hành ở 7000C. Điện cực dương, anode, được làm từ kẽm và
được cung cấp hydrogen hay thậm chí cả các hydrocarbon. Điện cực âm,
cathode, được tách khỏi nguồn không khí cấp vào nhờ một điện cực phân
tán khí GDE (gas diffusion electrode), một màng thẩm thấu cho phép
oxygen không khí đi qua. Ở cực âm, oxygen phản ứng với hydrogen để tạo
nên ion hydroxyl và nước.
Phản ứng trên anode: CH4 + H2O => CO2 + 6 H+ + 6e- (15.22)
Zn + OH- => ZnO + H + e- (15.23)
Phản ứng trên cathode: O2 + 2 H+ + 2e- => 2 OH- (15.24)
O2 + 4 H+ + 4e- => 2 H2O (15.25)
____________________________________________________________________
Tổng quát: CH4 + 2 O2 => CO2 + 2 H2O + năng lượng (điện) (15.26)
Nhiệt
độ vận hành cao của ZAFC làm cho nó có khả năng chuyển hóa nhiệt
hydrocarbon trực tiếp, không cần một thiết bị chuyển hóa bên ngoài để
tạo ra hydrogen. Một thuận lợi khác của việc hoạt động ở nhiệt độ cao
này đó là nhiệt thừa có thể được tận dụng để tạo ra hơi nước áp suất
cao, hữu ích cho nhiều ứng dụng công nghiệp và thương mại.
Chất
điện phân của ZAFC cũng có một số ưu điểm trội hơn so với các chất điện
phân khác. Nó không đòi hỏi nước bão hòa như màng polymer của PEMFC và
do vậy không bị khô đi hết nên không cần các thiết bị để kiểm tra giám
sát độ ẩm ở hai điện cực. Hơn nữa, vì là chất rắn, sự rò rỉ chất điện
phân cũng không xảy ra như với các chất điện phân lỏng. Tuy nhiên, do
điện cực dương bằng kẽm sẽ bị hao mòn nên bộ phận này thỉnh thoảng cần
được thay thế.
Bảng 1. So sánh các dạng pin nhiên liệu chính
(Nguồn: Types of fuel cell: http://www.eere.energy.gov/hydrogenandfuelcells/fuelcells/fc_types.html)
Dạng pin nhiên liệu
|
PEMFC
|
AFC
|
PAFC
|
MCFC
|
SOFC
|
Chất điện phân
|
Polymer hữu cơ rắn
|
Dung dịch kiềm
|
Dung dịch axit phosphoric
|
Muối carbonate nóng chảy của Li, Na và K
|
Oxit zirconium rắn
|
Nhiệt độ vận hành
|
60-1000C
|
90-1000C
|
175-2000C
|
600-10000C
|
600-10000C
|
Lĩnh vực ứng dụng
|
-Thiết bị điện cầm tay (di động, nhỏ)
-Giao thông vận tải (xe cộ)
|
-Quân sự
-Không gian
|
-Thiết bị điện
-Giao thông vận tải
|
-Trạm phát điện (lớn)
|
-Trạm phát điện (lớn)
|
Ưu điểm
|
-Chất điện phân là rắn nên giảm thiểu những vấn đề ăn mòn và bảo trì.
- Nhiệt độ vận hành thấp nên có thể được sử dụng rộng rãi cho các ứng dụng thông thường.
- Khởi động nhanh
|
- Phản ứng ở cathode nhanh hơn trong chất điện phân kiềm
|
- Đạt hiệu suất lên đến 85% khi kết hợp phát điện và nhiệt (cogeneration)
- Có thể sử dụng nhiên liệu không tinh khiết (lẫn tạp chất)
|
-Hiệu suất cao
-Có thể dùng được nhiều loại nhiên liệu đầu vào khác nhau (linh hoạt)
-Có thể dùng được các loại xúc tác khác nhau
|
-Hiệu suất cao
-Có thể dùng được nhiều loại nhiên liệu đầu vào khác nhau (linh hoạt)
-Có thể dùng được các loại xúc tác khác nhau
-Chất điện phân là rắn nên giảm thiểu những vấn đề ăn mòn và bảo trì.
|
Nhược điểm
|
-Nhiệt độ thấp đòi hỏi xúc tác đắt tiền
-Nhạy cảm cao với tạp chất của nhiên liệu (nếu có)
|
-Tốn chi phí cho việc khử CO2 khỏi nhiên liệu và dòng không khí
|
-Đòi hỏi xúc tác bạch kim (Platinium)
-Cho dòng điện cường độ thấp
-Nặng, kích cỡ to lớn
|
-Nhiệt độ cao làm tăng ăn mòn và có thể làm giòn vỡ cấu trúc của pin
|
-Nhiệt độ cao làm tăng ăn mòn và có thể làm giòn vỡ cấu trúc của pin
|
8. Viễn cảnh nền kinh tế hydrogen (hydrogen economy)
Chúng
ta đang đứng trên ngưỡng cửa của buổi giao thời trọng đại, chuyển tiếp
sang một thời kì năng lượng mới đa dạng hóa hơn. Cộng đồng quốc tế đã
nhận ra hydrogen là một thành phần chủ chốt cho một hệ thống năng lượng
sạch và bền vững. Hydrogen sẽ là chất mang năng lượng ứng dụng trong
nhiều lĩnh vực từ phát điện, đến vận tải, công nghiệp, dân dụng và
thương mại. Trong tương lai, khi công nghệ đã hoàn thiện dần, hydrogen
sẽ được sản xuất chủ yếu từ các công nghệ sạch như điện phân từ các
nguồn tái tạo, hay chuyển hóa nhiệt từ các nguyên liệu hóa thạch ban đầu
nhưng cùng với kỹ thuật thu hồi carbon. Hydrogen có thể được lưu trữ,
chuyên chở bằng các phương tiện vận tải hay trong các đường ống dẫn khí,
và được sử dụng trong pin nhiên liệu, động cơ, để tạo ra dòng điện mà
không thải khí ô nhiễm và chỉ có nước là sản phẩm phụ chủ yếu.

Trước
mắt và trong tương lai gần, hydrogen hầu như sẽ được sản xuất từ khí
thiên nhiên bằng công nghệ chuyển hóa nhiệt quen thuộc. Các công nghệ
còn đang trong giai đoạn hoàn thiện và phát triển dần hiện nay như sản
xuất hydrogen bằng điện phân dùng năng lượng tái tạo, hay trực tiếp từ
phương pháp quang sinh học, cùng với công nghệ than sạch… Tất cả sẽ ngày
càng trở nên “chi phí – hiệu quả” hơn và góp phần hình thành một hệ
thống sản xuất hydrogen nội địa đa dạng phong phú. Một trong những thế
mạnh của hydrogen chính là ở chỗ nó có thể sản xuất được từ nhiều nguồn
như vậy. Mỗi khu vực, tùy điều kiện của mình có thể có những cách kết
hợp các nguồn khác nhau để tạo ra hydrogen. Cơ sở hạ tầng cho hệ thống
lưu trữ, phân phối hydrogen cần được xây dựng dần. Nó có thể dựa trên
những công nghệ tiên tiến về xây dựng đường ống dẫn dầu khí hiện tại.
Chúng
ta có thể sử dụng hydrogen trong các động cơ đốt trong, tương tự như
các động cơ trong các phương tiện giao thông dùng xăng dầu hiện nay, chỉ
với một số thay đổi nhỏ về cấu trúc. Hydrogen cháy sạch hơn (không
thải, sản phầm phụ chỉ là nước) và hiệu quả hơn xăng dầu thông thường,
do đó các động cơ đốt trong dùng hydrogen đã và đang dần trở thành hiện
thực trong bước chuyển tiếp công nghệ này.
Quan trọng
hơn, đó là ứng dụng của hydrogen làm nhiên liệu cho pin nhiên liệu, một
công nghệ đầy triển vọng trong tương lai. Về cơ bản, pin nhiên liệu
hydrogen vận hành tương tự như quá trình nghịch của phản ứng điện phân:
khí hydrogenvà oxygen từ không khí kết hợp với nhau trong một phản ứng
điện hóa có xúc tác để tạo nên dòng điện và nước sinh ra tinh khiết đến
nỗi có thể uống được. Bên cạnh ưu điểm là không thải khí ô nhiễm, pin
nhiên liệu còn vận hành êm ả, không gây chấn động hay tiếng động và có
thể đạt được hiệu suất cao gấp hai đến ba lần động cơ đốt trong. Pin
nhiên liệu còn có thể được kết nối từ nhiều module khác nhau nên có thể
tạo được công suất đầu ra linh hoạt như ý muốn. Hơn nữa, pin nhiên liệu
cũng có nhiều loại, nên nó có thể có nhiều kiểu ứng dụng phong phú khác
nhau, từ các ứng dụng di động nhỏ như laptop - máy tính xách tay (50-
100 W) hay đến cả các trạm phát điện lớn với công suất cả trăm MW (1-200
MW). Một khi những công nghệ pin nhiên liệu trở nên hoàn thiện, chúng
có thế được sản xuất và ứng dụng trực tiếp ngay trong các hộ gia đình,
các thiết bị văn phòng, công nghiệp. Mặc dù tiềm năng pin nhiên liệu có
thể phục vụ cho gần như mọi mặt của nền kinh tế, hiện tại, nó vẫn còn
tương đối đắt đỏ so với động cơ đốt trong thông thường. Pin nhiên liệu
cần phát triển hơn nữa, nâng cao độ bền và giảm giá thành để có thể ứng
dụng rộng rãi trên thực tế.
Bước chuyển tiếp sang nền
kinh tế hydrogen sẽ cần có thời gian và phải trải qua nhiều giai đoạn.
Các giai đoạn được xác định bởi những tiến bộ về công nghệ và sự chấp
nhận của thị trường. Thêm vào đó, việc giáo dục về an toàn hydrogen cũng
cần được nỗ lực xúc tiến để đảm bảo và thuyết phục cộng đồng sẵn sàng
cho hydrogen ngày càng trở nên phổ biến hơn. Nhà nước - chính phủ, công
nghiệp và cộng đồng, tất cả sẽ đóng những vai trò quan trọng quyết định.
Nhà
nước sẽ là người hỗ trợ chính cho việc nghiên cứu và phát triển công
nghệ, cũng như trong việc phát triển các quy định luật pháp và tiêu
chuẩn an toàn cho việc sử dụng hydrogen. Nhà nước cũng có thể sử dụng
chính sách kích thích thị trường và khuyến khích các công nghệ năng
lượng hydrogen. Vai trò của nền công nghiệp là xác định khi nào các công
nghệ đã sẵn sàng cho bước chuyển tiếp vào thị trường, và thiết lập nên
cơ sở sản xuất để cung cấp các thành phần của công nghệ. Công nghiệp
cùng với cộng đồng, sẽ xác định những đòi hỏi của người tiêu dùng và sự
chấp nhận của thị trường đối với các công nghệ này.
Bước
chuyển tiếp sẽ đòi hỏi những nỗ lực đầu tư đáng kể ban đầu. Tuy nhiên,
kết quả đạt được sẽ là một nền kinh tế ổn định và bền vững, sử dụng
những nguồn tài nguyên tái tạo được sẵn có của địa phương để cung cấp
nguồn điện năng và nhiên liệu sạch đáp ứng cho các nhu cầu năng lượng
của chúng ta.
Phụ lục - Thế giới hướng đến nền kinh tế hydro
Các
nước trên thế giới đã bắt đầu lưu tâm đến hydrogen và xem nó như là
giải pháp then chốt cho những vấn đề lâu dài về bảo đảm an ninh năng
lượng, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế của mình. Để nền kinh tế
hydrogen trong lý tưởng sớm trở thành hiện thực, những hợp tác quốc tế
trên mọi mặt của việc phát triển năng lượng hydrogen, từ nghiên cứu công
nghệ đến ứng dụng, đều rất quan trọng. Phần phụ lục dưới đây nhằm tóm
lược những nỗ lực trên toàn cầu đang diễn ra nhằm hướng đến hydrogen như
một triển vọng tiềm năng cho nhu cầu năng lượng trong tương lai của thế
giới.
1. Cơ quan năng lượng quốc tế - International Energy Agency (IEA)
IEA
được thành lập từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên trong những năm
1970, như là một tổ chức liên chính phủ hoạt động nhằm bảo đảm nguồn
cung cấp năng lượng, phát triển kinh tế và bền vững môi trường thông qua
những nỗ lực hợp tác. Hơn hai mươi năm qua, IEA đã hỗ trợ các hoạt động
tập trung vào phát triển các công nghệ năng lượng tiên tiến. Nhằm thúc
đẩy việc thực hiện các nghiên cứu này, một số hiệp định thi hành (The
Implementing Agreements) của IEA đã hướng đến nghiên cứu các phát minh
mới trong công nghệ hydrogen và phát triển nó trong mọi mặt của nền kinh
tế. Các hiệp định thi hành này nhằm vào các lĩnh vực chính như: công
nghệ, an ninh năng lượng, môi trường, kinh tế, thị trường, triển khai…
2. Hiệp hội quốc tế vì một nền kinh tế hydrogen - International Partnership for a Hydrogen Economy (IPHE)
Tháng
11 năm 2003, bộ trưởng năng lượng của 16 nước, đại diện cho 85% tổng
sản lượng quốc nội (GDP) của toàn cầu đã họp lại thành lập nên IPHE, một
nỗ lực quốc tế quan trọng nhằm tối đa hóa các cộng tác liên kết giữa
các nước và xúc tiến chia sẻ các kết quả, kinh nghiệm nghiên cứu trong
công nghệ hydrogen.
3. Ủy ban kỹ thuật về công nghệ
hydrogen của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế - International Organization for
Standardization (ISO) Technical Committee on Hydrogen Technologies
Ủy
ban kỹ thuật về công nghệ hydrogen của ISO, tập trung vào việc chuẩn
hóa hệ thống và các thiết bị sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, đo lường và
sử dụng hydrogen. 15 nước tham gia đã cùng thảo luận, làm việc để hướng
đến phát triển những quy định thống nhất và các tiêu chuẩn cho hydrogen.
ISO cũng phát hành những báo cáo kỹ thuật về vấn đề an toàn liên quan
đến sử dụng hydrogen với mục tiêu cải tiến các phương pháp an toàn và
góp phần vào việc ứng dụng thành công hydrogen như nguồn năng lượng cung
cấp cho các hộ gia đình, văn phòng để sưởi ấm, phát điện và trong giao
thông vận tải.
4. Châu Âu
Các
chính phủ và các ngành công nghiệp khắp châu Âu đã tích cực chú tâm đến
việc phát triển công nghệ hydrogen và pin nhiên liệu từ năm 1988, khi
gần 8 triệu Euro tương đương lúc bấy giờ được cung ứng để hỗ trợ cho các
nghiên cứu này trong giai đoạn 4 năm. Mới đây, chủ tịch ủy ban châu Âu,
Romano Prodi đã công bố một chiến lược 2 tỉ Euro được dự thảo nhằm đưa
công nghệ hydrogen, gồm cả pin nhiên liệu phổ biến rộng rãi hơn với quy
mô thương mại lớn, cũng như cam kết rằng đến 2050, nguồn cung cấp
hydrogen cho châu Âu sẽ dựa trên các nguồn tái tạo được. Tháng 11 năm
2003, ủy ban châu Âu đã tung ra “Sáng Kiến cho Phát Triển của Châu Âu”
(the European Initiative for Growth), một sáng kiến trị giá 2,8 tỉ Euro
billion, trong đó dự đoán một chương trình 10 năm cho các nghiên cứu
liên quan đến hydrogen, sản xuất và ứng dụng. Nó cũng bao gồm cả “Cương
Lĩnh về Công Nghệ Hydrogen và Pin Nhiên Liệu của Châu Âu” (the European
Hydrogen and Fuel Cell Technology Platform).
Hiện tại,
liên minh châu Âu đã có hơn 70 dự án nghiên cứu và phát triển đang tiến
hành bởi chính phủ, các trường đại học và giới công nghiệp. Đặc biệt,
khối EU đã cam kết hỗ trợ cho dự án Giao Thông Đô Thị Sạch của châu Âu
(the Clean Urban Transport for Europe - CUTE)25. Là một trong những dự
án lớn nhất trên thế giới về công nghệ hydrogen và pin nhiên liệu, CUTE
sẽ giới thiệu một đoàn gồm 27 xe buýt chạy bằng hydrogen phục vụ tại
chín thành phố châu Âu. Dự án này cũng đòi hỏi phát triển cơ sở hạ tầng
và mạng lưới phân phối hỗ trợ cho đoàn xe. Thủ đô Madrid của Tây Ban Nha
là nơi chiếc xe buýt đầu tiên của dự án CUTE đã đi vào hoạt động từ
tháng 6 năm 2003. Trong năm đầu tiên, nó đã chạy hơn 6000 dặm và chuyên
chở hơn 30000 hành khách.

Song
song với dự án CUTE, ECTOS (Ecological City TranspOrt System) - hệ
thống giao thông đô thị sinh thái, là một dự án khác của khối EU, thử
nghiệm ba chiếc xe buýt Citaro dùng pin nhiên liệu ở Reykjavik, thủ đô
Iceland. Iceland (Ai-xơ-len) đã đặt ra mục tiêu trở thành đất nước có
nền kinh tế hydrogen đầu tiên trên thế giới. Với lợi thế có nguồn địa
nhiệt và thủy điện phong phú, đến năm 2005, Iceland đã có kế hoạch bắt
đầu vận hành những đội xe buýt nhỏ chạy bằng pin nhiên liệu hydrogen
dùng hydrogen sản xuất bởi điện phân nước từ các nguồn tái tạo được này.
5. Bắc Mỹ
Hoa
Kỳ đã bắt đầu nghiên cứu, phát triển hydrogen từ những năm cuối thập kỉ
1950 khi hydrogen lỏng lần đầu tiên được NASA sử dụng làm nhiên liệu
cho các phi thuyền không gian. Suốt cuộc khủng hoảng dầu mỏ thập kỉ
1970, cơ quan Năng Lượng của Hoa Kỳ, (Department of Energy - DOE) đã
được thành lập, tập trung chú ý vào nghiên cứu tìm kiếm các nguồn năng
lượng thay thế, trong đó có công nghệ hydrogen và sau đó, chương trình
Hydrogen của DOE đã được hình thành phục vụ cho nghiên cứu và phát triển
công nghệ này. Năm 1990, quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật nghiên
cứu, phát triển hydrogen Spark M.Matsunaga, trong đó quy định đưa vào
hiện thực một kế hoạch nghiên cứu và phát triển hydrogen trong nước Hoa
Kỳ. Năm 2002, DOE cũng đã công bố chương trình Freedom CAR (Cooperative
Automotive Research), nhằm làm giảm sự phụ thuộc của nước Hoa Kỳ vào
nguồn dầu mỏ nhập khẩu bằng các công nghệ tiên tiến tạo ra các loại xe
cộ chạt bằng pin nhiên liệu hydrogen (fuel cell vehicles - FCVs). Bên
cạnh đó, để đảm bảo cơ sở hạ tầng cần thiết cho phép FCVs thành công
trên thị trường, chính phủ Hoa Kỳ đã tuyên bố một nỗ lực phát triển
nhiên liệu hydrogen năm 2003. Trong vòng hơn 5 năm tới, những chương
trình này sẽ hỗ trợ 1,7 tỉ đô la cho việc phát triển các phương tiện
giao thông, xe cộ chạy bằng hydrogen và pin nhiên liệu hay kết hợp xăng
và điện (xe hybrid).
Canada cũng đã tiến hành chương
trình phát triển nghiên cứu hydrogen cấp quốc gia (the Canadian National
Hydrogen R&D Program - CNHP) qua trung tâm công nghệ năng lượng
CANMET. Mục tiêu của nó là phát triển và đánh giá hệ thống hydrogen cho
các ứng dụng tĩnh và vận tải, đặc biệt là các ứng dụng ngoài mạng lưới
điện quốc gia (off-grid) cho các vùng xa xôi hẻo lánh của Canada. Tháng
tư năm 2004, chính phủ Canada đã tuyên bố tài trợ cho thương hiệu Xa Lộ
Hydrogen Canada (the Canadian Hydrogen Highway™) được xây dựng giữa
Vancouver và Whistler, British Columbia. Thêm vào đó, 5 triệu đô la sẽ
được tài trợ cho ba dự án khác, bao gồm dự án xe pin nhiên liệu
Vancouver (the Vancouver Fuel Cell Vehicle Project), dự án phát triển
van áp suất cao cho hydrogen (the Hydrogen High-Pressure Valve
Development Project) và dự án xe tải phân phối hàng chạy bằng nhiên liệu
hydrogen (the Hydrogen-Powered Delivery Van Project).
6. Nam Mỹ – Brazil
Cùng
với ngành công nghiệp và các trường đại học, bộ khoáng sản và năng
lượng đang lãnh đạo một chương trình nhằm phát triển lộ trình quốc gia
cho bước chuyển tiếp sang nền kinh tế hydrogen ở Brazil. Ở khu vực trung
tâm São Paulo, chính quyền Brazil đang khuyến khích việc phát triển và
sử dụng các xe buýt chạy bằng pin nhiên liệu. Chính phủ Brazil hy vọng
rằng dự án này sẽ cung cấp những kinh nghiệm giá trị và làm tăng nhu cầu
xe buýt chạy bằng pin nhiên liệu cũng như dọn đường cho công nghệ
hydrogen có thể được thương mại hóa trên khắp đất nước Brazil. Hiện tại,
Brazil cũng sử dụng khí thiên nhiên và ethanol làm nhiên liệu cho các
phương tiện giao thông công cộng ở một số thành phố lớn khác như Rio de
Janeiro.
7. Châu Á – Thái Bình Dương
Khối
hợp tác kinh tế châu Á –Thái Bình Dương (APEC) có 21 thành viên gồm cả
Úc, Hoa Kỳ, Philippines, Malaysia và Nhật Bản, hiện nay đang chú trọng
hydrogen như là một giải pháp tiềm năng về lâu dài cho nhu cầu năng
lượng ngày càng tăng. Các thành viên APEC đại diện cho hơn một phần ba
của dân số toàn cầu (2,6 tỉ người) với GDP xấp xỉ 60% của thế giới và
chiếm 47% thị phần thương mại quốc tế. Mới đây, tài liệu khung tạm thời
về hydrogen và pin nhiên liệu đã được phát triển, xác định cơ hội cho
APEC hoạt động cùng với IEA và IPHE hướng đến việc phát triển một chương
trình hỗ trợ cho các vấn đề về chính sách và luật pháp, cũng như cùng
hợp tác để thống nhất các quy định, tiêu chuẩn.

Nhật
Bản đã nghiên cứu công nghệ pin nhiên liệu hydrogen từ những năm đầu
thập kỉ 1980, và là quốc gia dẫn đầu trong nghiên cứu và phát triển công
nghệ này. Năm 1992, Nhật Bản đã thiết lập nên Mạng Lưới Năng Lượng Sạch
Quốc Tế Sử Dụng Hydrogen (the International Clean Energy Network Using
Hydrogen Conversion (WE-NET in Japanese), một chương trình 10 năm được
thiết kế tập trung nghiên cứu và phát triển những công nghệ hydrogen cơ
bản. Ngày nay, chương trình WE-NET này đã được thay thế bằng Dự Án
Hydrogen Mới (New Hydrogen Project – NHP) của bộ kinh tế-thương tại và
công nghiệp Nhật Bản. Mục tiêu của họ là tạo điều kiện cho việc thương
mại hóa pin nhiên liệu hydrogen được thuận tiện.
Chuẩn
bị cho Thế Vận Hội Olympic 2008 tại Bắc Kinh, ban Thư Kí Năng Lượng Hoa
Kỳ, bộ trưởng bộ Khoa Học - Công Nghệ Trung Quốc và phó thị trưởng
thành phố Bắc Kinh đã thiết lập nghị định thư Olympic Xanh (the Green
Olympic Protocol), một hiệp ước tập trung vào việc sử dụng các công nghệ
năng lượng sạch, bao gồm các xe buýt chạy bằng hydrogen ở Bắc Kinh
trong suốt thời gian diễn ra Thế Vận Hội 2008. Một hội thảo đã được tổ
chức vào tháng 5 năm 2004 với sự tham gia của các tổ chức công nghiệp,
trường đại học và đại diện của chính phủ về vai trò của hydrogen trong
nền kinh tế Trung Quốc.
Mới đây, Hàn Quốc cũng đã bắt
đầu phác thảo các kế hoạch chính sách năng lượng chiến lược với mục tiêu
không còn phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và đạt đến nền kinh tế
hydrogenvào năm 2040. Chính phủ Hàn Quốc đã tuyên bố sẽ chi khoảng 100
tỉ won (99,2 triệu đô la Hoa Kỳ) trong năm 2005 này cho các dự án nghiên
cứu và phát triển công nghệ hydrogen và pin nhiên liệu.
Còn
ở Úc, một phân ban chuyên về hydrogen cũng đã được lập ra trong Viện
Năng Lượng Úc như là một trung tâm hợp tác nghiên cứu về tiềm năng
hydrogen của quốc gia này. Sustainable Transport Energy Project là một
dự án vận hành ba chiếc xe buýt Citaro dùng pin nhiên liệu ở thành phố
Perth, miền Tây Úc.
Ấn Độ cũng hỗ trợ một chương trình
nghiên cứu và phát triển hydrogen. Chương trình Năng Lượng Hydrogen của
Ấn Độ tập trung vào việc sản xuất, lưu trữ và ứng dụng hydrogen. Chương
trình đã tiến hành ứng dụng các thiết bị khí hóa để chuyển đổi sinh khối
gỗ thành hydrogen nhằm cung cấp nhiên liệu cho các máy phát điện ở các
thôn làng xa xôi hẻo lánh, và ứng dụng hydrogen kết hợp với khí thiên
nhiên làm nhiên liệu cho các phương tiện giao thông.
8. Việt Nam và những nghiên cứu đầu tiên
Những nghiên cứu về pin nhiên liệu ở Việt Nam tuy còn rất non trẻ song cũng đã có được một số thành tựu ban đầu.
Cuối
năm 2004, TS Nguyễn Mạnh Tuấn cùng các nhà khoa học tại Phân viện Vật
lý TP.HCM đã công bố những kết quả nghiên cứu đầu tiên của mình. Loại
pin nhiên liệu mà Phân Viện Vật Lý nghiên cứu là pin sử dụng cồn
methanol. TS Nguyễn Mạnh Tuấn cho biết ông cùng cộng sự đã hướng đến
nhiều hơn việc nghiên cứu pin nhiên liệu sử dụng cồn methanol bởi những
ưu điểm của loại pin này như nhiệt độ làm việc thấp, an toàn trong tồn
trữ và vận chuyển, thời gian pin hoạt động bền lâu. Quá trình nghiên cứu
đã cho ra loại pin nhiên liệu có hiệu suất chuyển hóa điện năng 50%,
với 250 ml cồn có thể cấp 600W/giờ điện.
Trong khi đó,
mới đây, vào đầu tháng 6/2005, TS Nguyễn Chánh Khê tại Trung tâm Nghiên
cứu và Phát triển - Khu công nghệ cao TP.HCM cũng đã công bố nghiên cứu
thành công pin nhiên liệu. Loại pin nhiên liệu mà trung tâm nghiên cứu
cũng sử dụng cồn làm nhiên liệu. Tuy nhiên, theo ông, thành quả quan
trọng là chế tạo được màng trao đổi proton ứng dụng từ vật liệu than
nano “lỏng” và nghiên cứu này đã được đăng ký sở hữu trí tuệ thế giới.
Ông còn cho biết thêm rằng trong quá trình nghiên cứu ứng dụng than nano
“lỏng” vào thành phần của pin, trung tâm cũng đã khám phá hiệu quả xử
lý nhiệt của than có khả năng gia tăng tính dẫn điện từ 103 đến 104 lần.
Phát hiện này hứa hẹn những phương pháp mới chế tạo than dẫn điện.
Tài liệu tham khảo
1. Các link tài liệu trên trang blog Hydrogen and Fuel Cell
http://hydrogen-fuelcell.blogspot.com/2005/06/hydrogen-mc-lc.html
2. The National Hydrogen Association (U.S.A)
http://www.hydrogenassociation.com/
3. HyNet – The European Thematic Network on Hydrogen
http://www.hynet.info/
4.
Hydrogen, Fuel Cells & Infrastructure Technologies Program, U.S
Department of Energy, Energy Efficiency and Renewable Energy
http://www.eere.energy.gov/hydrogenandfuelcells/
5. How The Hydrogen Economy Works
http://auto.howstuffworks.com/hydrogen-economy.htm
6. A Basic Overview of Fuel Cell Technology
http://americanhistory.si.edu/fuelcells/basics.htm
7. Powering the Future: Fuel Cells Promise Clean, Reliable Power
http://www.ctcase.org/bulletin/fuelcells.html
8. Types of fuel cells
http://www.fctec.com/fctec_types.asp
9. Common Types of Fuel Cells
http://www.moea.state.mn.us/p2/fuelcells-types.cfm
10. Hydrogen and Fuel Cell – Renewable Energy Policy Project
http://www.crest.org/hydrogen/index.html
11. Hydrogen Economy
http://www.hydrogenassociation.com/H2-Economy-Fact-Sheet.pdf
12. Cơn sốt chế tạo pin nhiên liệu
http://www.vnn.vn/khoahoc/xuhuong/2005/06/452131/
13. Pin nhiên liệu: Những nghiên cứu đầu tiên ở VN
http://www.vnn.vn/khoahoc/trongnuoc/2005/06/452101/
14. Biến nước thải sinh hoạt thành điện năng sạch
http://www.vnn.vn/khoahoc/xuhuong/2004/02/52761/
15. http://www.sciencedaily.com/releases/2005/04/050422165917.htm
16. Than nano "lỏng" made in Viet Nam
http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/doisongnvx/hdvktrongnuoc/2005/07/471671/
17. Global Effort: http://www.hydrogenassociation.com/Global-Effort-Fact-Sheet.pdf
Đọc thêm - Các liên kết hữu dụng
1. E-book: The Hydrogen Economy: Opportunities, Costs, Barriers, and R&D Needs (2004), The National Academies Press
http://www.nap.edu/books/0309091632/html/
2. Hydropole – Swiss Hydrogen Association
http://www.hydropole.ch/Hydropole/HYDROPOLE.htm
3. Bellona Report, "Hydrogen - Status and possibilities" (2002)
http://www.bellona.no/en/energy/hydrogen/report_6-2002/index.html
4. Fuel Cell Today
http://www.fuelcelltoday.com/
5. The Hydrogen Economy
http://www.physicstoday.org/vol-57/iss-12/p39.html
6. Fuel cells
http://library.thinkquest.org/04apr/00215/energy/fuel_cells/fuel_cells.htm#Fuel_cells
7. Energy Unbound
http://www.rps.psu.edu/hydrogen/unbound.html
8. The Hydrogen Economy – Energy and Economic Black Hole
http://www.culturechange.org/alt_energy.htm
9. Hyrogen and Fuel Cell Investors
http://www.h2fc.com/
10. Micro Fuel Cells – Super Cells
http://www.solve.csiro.au/1104/article6.htm
11. International Energy Agency: http://www.iea.org/
12. International Partnership for a Hydrogen Economy: http://www.iphe.net/
13. Clean Urban Transport: http://europa.eu.int/comm/energy_transport/en/cut_en.html