Hiển thị các bài đăng có nhãn Tu học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tu học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2024

Chia sẻ từ An Lạc Trang

Chia sẻ hồi tham gia khóa Chữa Lành và Chuyển Hóa Tâm thức tháng 3, 2023 tại An Lạc Trang, TP HCM của VCIL, nay được lên podcast.




Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

Hành trình đi đến Tự Do và Trưởng Thành

 Thật vui khi dịp này Tú về Việt Nam sau hơn 8 năm trời, tụi mình tổ chức được sự kiện chia sẻ truyền cảm hứng này. Buổi trò chuyện đã diễn ra trong không khí thân mật, ấm cúng với các em MF Saigon và vài người bạn của Tú. Mong sao buổi trò chuyện sẽ tiếp tục được lan tỏa, hữu ích cho những người cần đến! 💖


Nó là việc mình phải đi xa, đi thật xa cái quen thuộc, cái nhỏ bé, cái vô thức, và đi đến một lúc nào đó mình chợt nhận ra ồ thì ra mọi thứ mình tìm kiếm không nằm ngoài kia mà nằm bên trong chính mỗi chúng ta. Đến lúc đó ta trở về, phủi hết mọi bụi đường, mọi ngộ nhận, mọi ảo tưởng và ta tìm thấy ta ngay tại nơi ta bắt đầu. 

Nó giống như việc ta đi tìm kho báu, đi hết các nơi, trải qua bao gian truân cuối cùng bản đồ chỉ cho ta kho báu nằm ngay dưới chân ta nơi ta bắt đầu cuộc hành trình. 

Tự Do và Trưởng Thành là một cuộc hành trình như vậy. Nhiều người sẽ nghĩ rằng sẽ phí thời gian công sức, có cách nào để thấy "kho báu" ngay từ lúc đầu không? Dạ không! Nếu từ lúc đầu mà không cất bước đi, thì sẽ mãi mãi không có kho báu. Cuộc đời là vậy, nó là một hành trình, và hành trình đó dạy cho ta bài học, những bài học này là kho báu, kho báu không phải là đích đến, mà là ngay bây giờ và ở đây trong cuộc hành trình của bạn.

Thương mời bạn xem lại video buổi chia sẻ về "Hành trình tự do và trưởng thành" diễn ra ngày 16/12/2023 tại đây:

https://youtu.be/T1WGiCRFIao

File trình bày (pdf):

https://tinyurl.com/hanhtrinhtudo

Xin chân thành cảm ơn mọi người đã tham dự chương trình trực tiếp và theo dõi gián tiếp qua livestream, đã có những chia sẻ, đóng góp, góp ý để buổi trò chuyện thêm phần ý nghĩa. ❤

Xin chúc cho mỗi chúng ta vững bước trên hành trình tự do và trưởng thành của chính mình. ❤ 

Thương,

Phạm Tú








Thứ Tư, 26 tháng 7, 2023

Tu là chuyển mệnh

 Vài chia sẻ khi đọc bài post của Cá Chép.

"Những người sống với ý thức cao khi coi số mệnh sẽ không còn chính xác nữa. 

Xem số mệnh vô cùng chính xác với những ai hành động theo vô thức, cư xử với cuộc sống theo một cách bản năng tự nhiên nhất. 

Tức là bạn càng Tham, Sân và Si thì đi xem số mệnh sẽ rất hay và vô cùng chính xác.

Chính ba nguyên liệu Tham Sân Si tạo ra màu sắc và nhịp điệu của cuộc đời. Ai không tham lam, không nóng giận và không còn u mê thì tức là người đó đã có ý thức tự điều chỉnh được bản thân. 

Chính vì vậy, những ai tu hành hoặc có một đời sống tâm linh sâu sắc thì xem số mệnh không còn đúng nhiều nữa. 

Chuyện giàu nghèo giữ con người ở lại với lòng tham. Chuyện tình yêu làm con người ta mê đắm. Và chuyện xã hội làm ta nổi lửa trong lòng. 

Không còn ham muốn giàu nghèo, đã tự biết cách làm mình hạnh phúc mà không cần người khác, điều khiển được cảm xúc bản thân, chỉ cần làm được ba việc này thì xem số mệnh sẽ không còn chính xác nữa. 

Ai sống với ý thức cao thì không còn Tham Sân Si nữa, thì xem số mệnh cũng không còn chính xác nữa." ~ Cá Chép Phương Đông

Tu tập là chuyển nghiệp, chuyển mệnh. 

Thực ra số mệnh vẫn đúng nhưng mà những cái xấu thì sẽ được chuyển hóa thành tốt hơn. Khi tu tập rồi thì người đó sẽ vận dụng được nhiều hơn tiềm năng trọn vẹn của bản thân, các lĩnh vực của cuộc đời cũng hướng đến đời sống phụng sự và ý nghĩa tinh thần nhiều hơn. Trong chiêm tinh thì lúc này có thể áp dụng các chủ tinh nội môn cho lá số. 

Cùng một lá số nhưng với người có tu tập các sao sẽ thể hiện mặt tích cực nhiều hơn (mỗi sao hay dấu hiệu đều có cả 2 mặt tích cực và tiêu cực, mặt tiêu cực là do bản chất đó bị biến dạng, mặt tích cực là nguyên mẫu lý tưởng). Tu tập ở đây đơn giản là các thực hành tinh thần nhằm rèn luyện nâng cao nhận thức về bản thân, duy trì sự tỉnh thức và làm chủ bản thân chứ không bị vận hành theo quán tính của nghiệp quả, tập khí, bản năng, vô thức, tiềm thức...



Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023

Ý thức trách nhiệm và sự khai mở luân xa tim

 


Hôm nay có một ý hay từ bài giảng của Cô Nicole trong lớp Esoteric Healing, đó là việc giao trách nhiệm cho trẻ em như là một cách giúp kích hoạt, thức tỉnh luân xa tim. Vì cảm thức về trách nhiệm là biểu đạt của luân xa tim hoạt động.

Quốc Khánh: "Chúng ta xem xét qua về mối liên hệ cung năng lượng (tâm lý) – năng lượng chiêm tinh – trung tâm lực:

- Song Ngư: truyền cung 1 và cung 2. Qua Song Ngư, điểm đạo đồ nhập vào Shamballa. Ý nghĩa của “cứu thế” là biểu lộ trạng thái sự sống qua bác ái, do đó, nó là một phương diện của “sự hy sinh” (thôi thúc hy sinh “chính nó là nguyên khí chi phối chính sự sống” – it is a governing principle of life itself”) - Đó là một trạng thái mong muốn, nhưng đó là khía cạnh năng động, tích cực chứ không phải khía cạnh cảm giác, thuộc giác quan-  It is an aspect of desire, but it is the dynamic, active side and not the feeling, sensuous side. [EP II 98] Ở đoạn trên chúng ta thấy khía cạnh cung 1 rất rõ trong Định luật Hy sinh, trong Song Ngư và trong “trách nhiệm tinh thần” : nguyên khí sự sống, khía cạnh năng động, tích cực.

- Sự liên hệ giữa Song Ngư và Ma Kết ta thấy rõ ở đoạn trên: bí nhiệm Makara là về Thái Dương Thiên Thần, Huyền Giai Sáng Tạo Thứ 5, “Trái tim của Tình Thương Rực Lửa”, Đấng Hy Sinh cho các mục tiêu tinh thần (phụng sự Thượng Đế, phụng sự linh hồn khác…)


- Ma Kết đặc trưng bởi trách nhiệm, Song Ngư ở giai đoạn cao nhất biểu lộ “Trách nhiệm tinh thần”. Cả hai đều truyền cung 1 và cung 2; cả hai đều liên kết với trái tim, và do đó, với trung tâm lực tim và trung tâm lực tim trong đầu.

- Leo: trách nhiệm cá nhân; Aquarius: trách nhiệm nhóm. Cả hai đều liên kết với cung 1: Leo truyền cung 1 (trong liên hệ với Shamballa là trạng thái Ý Chí của Vua Shamballa – The Will of the King of Shamballa); Aquarius truyền cung 1 (trạng thái sự sống, tâm thức phổ quát, Uranus): Cả Leo và Aquarius đều liên quan đến “phụng sự thế gian – the World Server” [EA 67] Phụng sự là một sự thể hiện của sự sống - Service is a life demonstration. (EP II 125); Cả phụng sự và cứu thế đều là sự hợp nhất của trạng thái sự sống và bác ái, biểu hiện qua trái tim; sự khác biệt ở chỗ phụng sự “sự đồng nhất hóa này với khía cạnh cảm xúc của mọi nhóm” [EP II 123], sự sống biểu hiện qua khía cạnh thứ hai (cảm xúc) của thiên tính dưới dạng “mong muốn nhóm – group desire”, do đó, nó liên quan đến trái tim và với Thánh Đoàn; “Cứu độ” cũng là một trạng thái của mong muốn/aspect of desire, nhưng ở khía cạnh năng động. Mong muốn/desire vừa là ý chí vừa là bác ái. Người phụng sự và người cứu độ đều biểu hiện qua trách nhiệm.

- Sự tương đồng giữa Aquarius và Capricorn là “ý thức trách nhiệm” khi cả hai đều mang gánh nặng của thế gian – the burden of the world [EA 333]
- Chúng ta có ba cấp độ trách nhiệm: trách nhiệm cá nhân (Leo – người bình thường) – trách nhiệm nhóm (Aquarius – đệ tử) – trách  nhiệm tinh thần (Pisces – điểm đạo đồ)
- Leo cai quản trung tâm lực tim (qua Jupiter) và trung tâm lực tim trong đầu hay luân xa ngàn cánh (Neptune; hoặc Leo được cai quản bởi Mặt Trời, mà Mặt Trời thay thế cho Vulcan, “tâm của Mặt Trời” liên quan đến trung tâm lực tim trong đầu) – Aquarius cai quản trung tâm lực tim và cũng trung tâm lực tim trên đầu (tự nó và qua các chủ tinh như Leo) – Song Ngư cai quản trung tâm lực tim, và trung tâm lực tim trong đầu (qua Jupiter, Neptune  và cung 2) – Capricorn, “viên ngọc trung tâm” trong mọi luân xa (Capricorn cũng cai quản trung tâm lực đầu), các Thái Dương Thiên Thần liên kết trái tim và đầu.

Ở đoạn trích trên chúng ta được dạy rằng luôn luôn liên kết trái tim (bác ái) và trạng thái sự sống: “Trái tim có liên quan với khía cạnh sự sống, vì có chỗ ngự của nguyên khí sự sống và có năng lượng sự sống được neo ở đó. Nó liên quan với sự tổng hợp, với Chân Thần, và với tất cả những gì nhiều hơn cái bản ngã riêng biệt.” 

Như vậy, chúng ta có thể thấy là “trách nhiệm – responsibility” là sự hợp nhất của trạng thái ý chí và trạng thái bác ái, hay cung một và cung hai; nó được liên kết với trung tâm lực tim, và từ đó đến trung tâm lực tim trong đầu.

Việc huấn luyện một đứa trẻ ý thức trách nhiệm, và qua đó học được sự nhẫn nại. Cả “nhẫn nại” và “trách nhiệm” đều là phẩm tính cung 2. Ở đây có cách áp dụng huyền bí vào việc khai mở trung tâm lực tim một cách an toàn (như được dạy trong LOM và TWM) bằng cách “lập hạnh” hay xây dựng phẩm tính. Về cơ bản, nó là tham thiền hữu chủng bằng cách kiến tạo tư tưởng, sau đó năng lượng đi theo tư tưởng và trung tâm lực tim được khai mở. Đối với việc trau dồi “ý thức trách nhiệm”, nó có điểm tương đồng về mục đích với bài “tham thiền Đức Thầy trong trái tim” vì sự liên kết giữa trung tâm lực tim - trung tâm lực tim trong đầu - Linh hồn. Nó ít phức tạp hơn và an toàn hơn là tham thiền. Với ý thức trách nhiệm, đứa trẻ sẽ sống như Linh hồn biểu lộ.

The blessing of your co-disciples is upon you and yours on them. [DINA 440] “Phúc lành của những người huynh đệ trong tay bạn và phúc lành của bạn trong tay họ”. Đoạn này thì em liên hệ đến bài thiền Tam Giác ngày thứ 4. Nó rất sâu sắc và huyền bí. Nó là điều kiện tất yếu của bài thiền này. Em coi câu này như một khái niệm về "ý thức trách nhiệm". Nó tương tự như ý nghĩa của câu này: “Y đảm-nhận nhiệm-vụ theo một ý nghĩa rất chân thực là trở thành người bảo vệ/giữ gìn của huynh đệ mình, và nhận ra rằng trên thực tế thì sự tiến bộ, sự thỏa mãn, sự yên tâm và thịnh vượng, không tồn tại cho y, khi chúng tách ra khỏi những thứ đó của huynh đệ y”.

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2022

Về nghiệp quả và tái sinh trong hoàn cảnh khó khăn

Trả lời câu hỏi của một bạn khán giả sau chủ đề Cái Chết.
Có phải những người bị khuyết tật hay bệnh tật bẩm sinh là do linh hồn lựa chọn quyết định?

Việc quyết định tái sinh như thế nào sẽ do linh hồn lựa chọn để tối ưu cuộc tiến hóa tâm thức của một người (lựa chọn hoàn cảnh sinh ra, các biến cố chính trong cuộc đời, gia đình và những người liên hệ quan trọng). Tuy nhiên, linh hồn không lựa chọn một mình mà cùng với một hội đồng các đấng nghiệp quả tinh quân Lipika, cũng như các linh hồn có liên hệ khác trong kiếp sống tới. Ngoài ra, các thể của con người trong lần tái sinh kế tiếp cũng sẽ phụ thuộc vào điểm tiến hóa trong lần tái sinh vừa qua (do các rung động của các thể được tích tụ trong các hạt nguyên tử trường tồn - giống như một kiểu các mã gene sẽ quy định các thể của kiếp sống tiếp theo). Điều này cho thấy sự liên tục của tiến hóa, chúng ta sẽ bắt đầu kiếp sống mới với điểm tiến hóa mà chúng ta đã để lại ở kiếp sống vừa qua. 

Như vậy, chúng ta thấy rằng hoàn cảnh cho kiếp sống tái sinh mới sẽ bị chi phối bởi luật nhân quả (vì bản thân luật nhân quả hiểu đúng là giúp chúng ta cân bằng và học bài học cuộc đời theo cách tốt nhất) mà vốn cũng sẽ hòa hợp và cùng với quyết định của linh hồn. 

Khi chúng ta còn chưa tiến hóa nhiều, còn phải học nhiều bài học thì chúng ta sẽ vẫn còn bị chi phối bởi nhân quả, và các quyết định của linh hồn cũng dựa theo đó để giúp chúng ta học các bài học tốt nhất.

Giai đoạn đầu trên con đường đệ tử sẽ có nhiều khó khăn do sự "nhồi quả" để có thể giải phóng càng nhiều nghiệp quả càng tốt và sau đó con người có thể phụng sự, gánh vác tiếp các cộng nghiệp của dân tộc, thế giới chứ không chỉ của bản thân nữa.

Khi chúng ta càng tiến hóa cao thì sự tự do khỏi nghiệp quả càng nhiều như ở các bậc điểm đạo đồ, thì họ chủ yếu tái sinh để phụng sự. Lúc này vẫn có trường hợp linh hồn quyết định lựa chọn sinh ra trong những hình hài khuyết tật nhưng không phải vì lý do để học bài học hay trả nghiệp, mà có thể vì một lý do đặc biệt, đánh thức tâm thức quần chúng, được phân biệt bởi ý chí kiên cường. Đó là trường hợp những vị Bồ Tát tái sinh nhằm làm gương cho nhân loại, truyền cảm hứng sống...

Tóm lại, chúng ta không thể nhìn vào vẻ ngoài hay hoàn cảnh của một người mà phán xét về mức độ tiến hóa của họ. Hơn nữa, phần đi vào luân hồi chỉ là một phần thấp kém, chưa hoàn thiện của con người, còn xét về bản thể, về linh hồn, ai cũng đều thiêng liêng như nhau. Do đó Chân Sư khuyên chúng ta hãy sống như những linh hồn, và xem những người khác cũng như vậy (như những vị Phật sẽ thành) để nhắc nhở và phát triển thiên tính, Phật tính bên trong chính chúng ta và trong họ.

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2022

Trò chuyện trên Radio Triết Học Đường Phố

Hôm trước mình có buổi trò chuyện với Ruby Ngọc Minh, bạn host kênh Radio Triết Học Đường Phố của các bạn trẻ, về thời đại Bảo Bình, hành trình của linh hồn...

Thứ Ba, 13 tháng 7, 2021

Sức mạnh Phân Biện và Quyết Định

Hôm nay mình đọc được câu này hay hay: "Thời điểm tốt nhất để trồng một cái cây là cách đây 20 năm trước; và thời điểm tốt thứ nhì là NGAY BÂY GIỜ."

...

PHÂN BIỆN

Tối thứ ba tuần trước mình dự buổi giảng của Cô Trish bên Inner Space về sức mạnh phân biện (discerning). Cô Trish nhìn dịu dàng bình an như cô tiên vậy. Hình ảnh Cô quen thuộc với bộ đồ trắng, nụ cười hiền lành và giọng nói từ tốn, nhẹ nhàng. Mình ghi vội lại mấy ý sau:

Phân biện là nhìn thấy chính mình, những người khác và hoàn cảnh như chúng thực sự là. Chúng ta cần phân biện giữa thật và ảo, đúng và sai... Sự khác biệt giữa tư duy phản biện và phân biện tích cực đó là tư duy phản biện hoạt động với thông tin (phân tích, là người tư duy chủ động chứ không thụ động); trong khi phân biện tích cực mang tính nội tại và bên trong hơn (lựa chọn của tôi trong cuộc sống...)

Những công cụ để phân biện là:

1. Trở thành người quan sát, có khả năng lùi lại ra xa khỏi những gì đang diễn ra và trở thành người quan sát, nhìn từ những góc độ, quan điểm của những người khác, không phán xét. Nếu đứng gần quá ta sẽ không thể nhìn được bức tranh lớn, toàn cảnh. 

2. Xóa đi những niềm tin giới hạn về bản thân, người khác, tình huống... Biết được những giá trị của mình và cũng nhìn thấy những giá trị của người khác. Bình tĩnh. Không so sánh. Hiểu rằng mỗi người có những tiềm năng của riêng mình.

3. Một tầm nhìn rộng mở. Nhìn mọi người từ một tầm nhìn rộng lớn chứ không chỉ ở một khoảnh khắc. Hiểu được quá khứ, hiện tại và tương lai. Để phân biện, chúng ta cần nhìn vượt ngoài khoảnh khắc hiện tại đến tác động của lựa chọn trong tương lai xa.

4. Tâm trí tĩnh tại, minh mẫn. Dành 5 phút để tĩnh lại. Trụ ở điểm giữa. Trung dung.

QUYẾT ĐỊNH

Tối nay vừa dự xong tiếp chương trình "Sức mạnh Quyết Định" của Cô. Quyết định là khả năng đưa ra lựa chọn hiệu quả từ những gì đã phân biện. Điều quan trọng khi đưa ra quyết định đó là giữ cho tâm thức tĩnh tại, cân bằng, an nhiên ở tâm điểm và chỉnh hợp với những giá trị, lương tri của chính mình. 

Hình sau của Cô đã tóm tắt lại những ý quan trọng cần cân nhắc trước khi ra quyết định.







Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2021

Chết một cách tốt đẹp

Death and Dying Well : From the Teachings of Master Djwhal Khul

Link video gốc ở kênh Monadic Media: https://youtu.be/Bygr4AP-Qsg

Phiên dịch và thuyết minh: nhóm MFVN.





Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2021

Thời Đại Bảo Bình

 Bài trình bày về Thời Đại Bảo Bình cho buổi họp nhóm MF Việt Nam, tháng Bảo Bình 2021.




Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2020

Về chiêm tinh học nội môn và phụng sự vô kỷ

Ghi chép của Chương

"Học chiêm tinh nội môn ngoài việc giúp xác định được mục tiêu và con đường linh hồn trong kiếp sống này của bản thân mình, thì còn có mục tiêu phụng sự cho người khác nữa. Khi đạt trình độ chiêm tinh gia, chúng ta có thể giúp cho người khác nhận ra con đường linh hồn của họ thông qua việc đọc lá số của họ. Như Thầy HT đã giảng tại Hội nghị USR vừa qua:

“
Nhưng trọng tâm, trong chiêm tinh nội môn, cuối cùng phải là những phẩm chất tích cực và tiềm năng cao nhất mà con người có thể thể hiện.

Một nhà chiêm tinh nội môn phải đóng vai trò là người kích hoạt hoặc chất xúc tác để giúp khách hàng kết nối với mục đích bên trong của chính họ.

Và mục đích này có thể dễ dàng được xác định nhất bằng cách hỏi khách hàng điều gì khiến họ vui nhất; Đam mê của họ là gì; họ thích làm gì nhất?


Niềm vui là một trong những phẩm tính tối cao của linh hồn, và tập trung vào những gì mang lại cho chúng ta niềm vui là để phù hợp với mục đích linh hồn của chúng ta.”

Chú T. chia sẻ tại buổi họp Weasak của nhóm ngày 3/5/2020:

"Bà HBP nói: đọc 1 câu mất 1 thời thì suy ngẫm 10 thời, thực hành 100 thời (không nhớ chính xác). Tức là thực hành nhiều hơn là đọc rất nhiều.

Ý thức về Công dân thế giới cho tất cả mọi người (cho dù cả những ng bình dân) để giải quyết các vấn đề của nhân loại.

Hướng cuộc đời các bạn vào cuộc đời phụng sự.
Thực hành: con đường thanh luyện và con đường phụng sự phải đi trước con đường thành đạt.
Đó là 1 sự siêu hoá liên tục cái phàm ngã của mình. Cái phàm ngã vẫn chi phối chúng ta rất tinh tế trong thời gian rất rất lâu. Siêu hoá không phải là diệt ngã, nó rất quý vì mình đã đào luyện nó bao nhiêu kiếp sống. Cho nên làm thế nào để con ngựa hoang nó thuần phục chân ngã. Ngày này qua tháng khác, cho đến khi nó thuần phục.
Vào 1 lúc bất ngờ nhất, ánh sáng sẽ chói rạng, chúng ta không nên bận tâm tới.
Tôi chỉ làm mấy phương tiện đầu của Raja Yoga. Xây rất kỹ, cái móng rất bền thì nhà sẽ rất vững. Các phương tiện cao hơn tôi vẫn rò rẫm, tôi cứ tự nhiên không có tham vọng gì, như bà AAB nói đó là tuỳ duyên. Ví dụ như vận khí điều tức gì đó tôi cũng không biết.

Nếu mình biết những điều bí mật mà mình có thể phụng sự hơn nữa thì các vị thầy sẽ chỉ cho mình. còn nếu để mình chăm chút cái ngã của mình thì sẽ là nguy hiểm.

Hiểu tới đâu, thực hành tới đó.
Isolated Unity: Nhất Như Tự Tại (trong Raja Yoga).

Khi vô kỷ thì thấy nhẹ nhàng lắm, cứ an vui mà đi tới. Sự nhẫn nại vô bờ bến là đặc tính của các đệ tử (Chân sư DK viết). Họ sẽ không bận tâm bản thân mình tương lai như thế nào.
Chúng ta cứ mở rộng tâm hồn ra, ngoài MF, ngoài Arcane, tất cả trường nội môn, tất cả những người đi tìm chân lý. Không có chút xíu tâm phân biệt nào. Vì giầu 2 người học cùng trường, cùng lớp, cùng thầy thì vẫn 2 lối khác nhau do trình độ, nghiệp quả, cấu tạo khác nhau.
Cần phải phân biện tối đa. Đi an toàn vui vẻ cùng nhau như các bạn đang làm là rất tốt.”



Năng lượng và tự chữa lành



 Bài tập hôm nay có nhiệm vụ là tìm một viên đá tự nhiên để làm viên đá nhiệm màu của riêng mình: "Kể từ giây phút viên đá được bạn chọn đi cùng trong suốt hành trình thực thi lòng biết ơn này, hãy gìn giữ nó bên cạnh như một người bạn đồng hành, chia sẻ, lắng nghe và cảm nhận những Phép Màu. Mỗi tối trước khi đi ngủ, hãy cầm viên đá nhiệm màu trong tay và nghĩ về những điều tốt đẹp đã xảy ra và nói ra lời cảm ơn từ trái tim mình." ❤

Mình chợt nhớ đến Jar of Happiness của Tú, chiếc lọ thủy tinh nhỏ có những viên sỏi trắng, được vẽ hình trang trí hay viết chữ kiểu thư pháp lên trên "smile", "breathe", "be still", "peace", "now is the time" mà em đã gửi cả biển tình thương vào đó. Câu chuyện của Tú, hành trình tìm đạo của một cô gái mạnh mẽ, độc lập chắc có thể viết thành cả một cuốn sách thú vị. Em chu du khắp Ấn Độ, lên Hy Mã Lạp Sơn, rồi bây giờ đã hài lòng và an vui với cuộc sống trên một hòn đảo xa ngoài Thái Bình Dương, với công việc tu tập, dạy yoga, thực hành chữa lành.

Điều bất ngờ và kỳ diệu đó là vừa nghĩ đến em vậy, thì sau đó mình nhận được tin nhắn của em, gửi đoạn em chia sẻ về năng lượng, nguồn gốc của bệnh tật và tự chữa lành thân tâm dựa trên cách vận hành của năng lượng. Nhận thấy nó khá hữu ích cho mọi người, mình xin post ở đây. ❤

Cảm ơn vũ trụ, cảm ơn gia đình, bè bạn, những người thân yêu, xin cảm ơn tất cả những phúc lành trong cuộc đời! ❤

Cập nhật ngày 28.5.2020 

Tự nhiên hôm nay trong lúc tìm lại video clip của nhóm MF Vietnam gặp gỡ Thầy Cô Hiệu Trưởng ngày 15.12.2020, mình lại thấy được cái video clip hồi xưa (mà AD giúp thu âm)Tú và mình rap bài hát biểu diễn trong buổi lễ trao giải thưởng vẽ tranh chủ đề rác thải năm 2019 do GIZ tổ chức. Vui quá! Hồi đó Tú make up cho mình, từ đầu tóc đến trang phục rapper, hihi.










Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2020

Tình thương dịu mát



Bác sĩ Newton Kondaveti, chuyên gia về chữa lành tâm thức nhấn mạnh hai phẩm chất quan trọng cần được vun bồi ở người làm công việc chữa lành và trợ giúp người khác (mà mình nghĩ cần cho tất cả mọi người), đó là yêu thương và hiện diện. Hai phẩm chất này cùng kết hợp với nhau trong một thứ tình thương tỉnh thức mà ông gọi là “cool love”, khác với “hot love” hay tình yêu thông thường ở chỗ nó giống với lòng trắc ẩn, từ bi hơn. Theo ông, hiện diện và yêu thương đi cùng nhau, chúng cùng nhau xuất hiện hay cùng nhau vắng mặt. Phẩm chất hiện diện tự nhiên hiển lộ khi chúng ta có mặt trọn vẹn ở hiện tại, không kỳ vọng, không phán xét, không định kiến mà thư thái và chấp nhận thực tại như nó đang là.

“Cool love” làm mình nhớ đến câu nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm trong kinh Phổ Môn “Nam mô thanh tịnh bình thùy dương liễu Quán Thế Âm Như Lai cam lồ sái tâm”. Thầy Thích Thanh Từ giảng nghĩa: “Bình thanh tịnh đựng nước cam lồ, nhờ cành dương liễu rưới khắp làm cho tâm người được mát mẻ. Nước cam lồ vừa ngọt vừa mát, biểu trưng cho lòng từ bi, chan rải đến đâu làm êm dịu mọi khổ đau của chúng sinh tới đó. Bình thanh tịnh là biểu trưng cho người giữ giới nên tâm thanh tịnh. Từ bình thanh tịnh mới chứa được nước cam lồ. Cũng thế người có giới đức thanh tịnh mới phát khởi lòng từ bi. Còn cành dương liễu để làm gì? Cành dương liễu biểu trưng cho đức nhẫn nhục, mềm mại nhưng dẻo dai. Muốn đem lòng từ bi ban rải cho chúng sinh được an vui mà thiếu đức nhẫn nhục thì lòng từ bi khó thực hiện được.”


Thứ Hai, 11 tháng 3, 2019

Đức Mẹ - Tính Nữ Thiêng Liêng


Cuối tuần rồi, mình thật biết ơn khi được dự khóa học ấm áp và cảm động về Đức Mẹ - Tính Nữ Thiêng Liêng (Divine Mother). Mẹ Thiêng Liêng hiện thân cho Lòng Trắc Ẩn, Từ Bi, Tình Thương, Nuôi Dưỡng, Chăm Sóc, Bảo Hộ với nhiều biến thể trong tất cả các nền văn hóa trên thế giới. Nếu phương Tây có Đức Mẹ Mary, thì phương Đông có Đức Mẹ Quan Âm. Đặc biệt, ở Ấn Độ, Đức Mẹ Thiêng Liêng được biểu hiện qua hình ảnh vợ của Thần Shiva - có khi là nữ thần Parvati xinh đẹp hiền dịu, có lúc lại hóa thân là nữ thần Durga hay Kali với tinh thần chiến binh dũng mãnh để bảo vệ cái Thiện trong cuộc chiến với kẻ ác.

Sự tôn thờ Đức Mẹ đã hiện diện từ rất lâu, trong các nền văn minh cổ đại thời Lemuria. Trong bản đồ lục địa Lemuria thời hoàng kim đó, đất nước Việt Nam nằm ở giữa, phải chăng vì thế mà ta có Đạo Mẫu từ truyền thống xa xưa. Thật thú vị khi được nghe các câu chuyện về những nền văn minh cổ, những thiên đàng đã mất không được nhắc đến trong chính sử, trên những lục địa đã chìm dưới đáy đại dương. Sự xuất hiện của những thiên thần sa ngã gây chia rẽ, những cám dỗ của tham vọng quyền lực và vật chất đã khiến các nền văn minh từng vĩ đại một thời sụp đổ. Về mặt biểu tượng, họ sụp đổ, chính bởi vì đã đánh mất ngọn lửa Mẹ Thiêng Liêng... Mình tin rằng chúng ta sẽ rút ra được rất nhiều bài học khi nghiên cứu những nền văn minh đó. Tin vui, ấy là với thời đại Bảo Bình đang đến, tính Nữ Thiêng Liêng được dự báo sẽ trỗi dậy, để lập lại cân bằng và hợp nhất trên thế giới.

Cô giáo đã kể một câu chuyện sự tích Quan Âm cảm động mà cô gọi là "The legend of Miaoshan". Có lẽ người Việt Nam mình khá quen thuộc với câu chuyện Quan Âm Thị Kính, nhưng còn Miaoshan? Sau khi tra cứu thì mình biết được rằng Miaoshan chính là công chúa Diệu Thiện hay còn gọi là Chúa Ba (ba từ chữ shan này chăng?), Quan Âm Nam Hải. Câu chuyện về sự hy sinh của Nàng đã để lại trong mình một ấn tượng sâu sắc...


HUYỀN THOẠI ĐỨC MẸ QUÁN THẾ ÂM


"Vua Diệu Trang Vương (Linh Ưu) có ba người con gái. Ba nàng công chúa lớn lên, nhà vua định hôn cho hai chị của Diệu Thiện là Diệu Thanh và Diệu Âm, với hai vị quan trẻ tuổi và tài giỏi trong triều đình; còn nàng con gái út Diệu Thiện thì nhất định không chịu lấy chồng, mà lại còn có ý xin phép vua cha và mẫu hậu xuất gia tu hành. Công chúa Diệu Thiện không những là tuyệt sắc giai nhân mà còn có tấm lòng thiện lương, tính cách điềm tĩnh nhẹ nhàng và thông minh sắc sảo. Tuy nhiên, nàng đã quyết tâm buông bỏ mọi vinh hoa phú quý chốn cung thành.

Vua Linh Ưu tức giận, đày Diệu Thiện vào trong Hoa Viên lo việc gánh nước tưới hoa, làm các công việc cực khổ; đồng thời cho người khuyến dụ nàng bỏ ý định đi tu, nhưng nàng nhứt định cam chịu khổ chớ không từ bỏ ý định tu hành.

Thấy vậy, Hoàng Hậu rất đau lòng, liền xin với vua Linh Ưu cho Diệu Thiện vào chùa Bạch Tước tu hành. Nhà vua chấp thuận, và ngầm ra lịnh cho các tăng ni trong chùa bắt Diệu Thiện làm các công việc nặng nhọc vất vả, để nàng không chịu nổi mà sớm trở về Cung nội. Diệu Thiện, tâm vẫn cương quyết, làm đầy đủ các bổn phận, dầu rất cực khổ, nhưng không một tiếng than, và luôn luôn lo việc tu hành. Diệu Thiện tu hành ở đó và tình thương của nàng cảm hoá được muông thú.

Nhà vua thấy cách này thất bại, nên nghĩ ra cách sai lính đốt chùa, để Diệu Thiện không còn nơi tu hành, phải trở về Cung nội. Quân lính phóng hỏa khắp bốn mặt, các tăng ni hốt hoảng lo chạy thoát thân, riêng DiệuThiện vẫn điềm tĩnh, nàng lâm râm cầu nguyện, rồi lấy cây trâm chích vào lưỡi, ngước mặt phun máu lên không, tức thì mây đen hiện ra, mưa tuôn xối xả, dập tắt hết các ngọn lửa. Quân lính đều hết sức kinh ngạc.

Nhà vua không vì sự mầu nhiệm đó mà hối hận, lại bắt Diệu Thiện về triều, tổ chức các cuộc đàn hát vui chơi, để làm cho Diệu Thiện say mê, bỏ việc tu hành. Nhưng vua cha vẫn thất bại bởi Đạo tâm vững chắc của nàng con gái út. Nhà vua quá tức giận vì không thực hiện được ý mình, nên ra lịnh tối hậu cho nàng Diệu Thiện chọn một trong hai điều: một là phế việc tu hành, lo bề gia thất; hai là chịu xử trảm vì cãi lịnh vua cha. Nàng Diệu Thiện nhứt quyết chịu chết chớ không chịu bỏ việc tu hành.

Thần Hoàng Bổn Cảnh vội vã bay về Trời tâu trình Thượng Đế, và Đức Thượng Đế ra lịnh cho Thần mau trở về bảo hộ nàng Diệu Thiện. Diệu Thiện bị đưa ra pháp trường hành quyết. Khi đao phủ đưa đao lên định chém xuống thì đao liền gãy nát; lại lấy cung tên đặng bắn cho chết thì khi mũi tên gần tới Diệu Thiện thì mũi tên bị gãy nát. Thấy không giết được Diệu Thiện bằng hai cách trên, kẻ hành quyết liền dùng hai bàn tay đến siết cổ Diệu Thiện.

Bỗng đâu cuồng phong nổi lên, cát bay đá chạy, thiên ám địa hôn, một đạo hào quang bay đến bao phủ nàng Diệu Thiện, rồi Thần Hoàng hóa thành một con hổ lớn cõng Công Chúa Diệu Thiện chạy bay vào rừng. Các quan giám sát cuộc hành quyết bị một phen hoảng vía, trở về triều báo cáo lại với vua tất cả các việc. Nhà vua không chút nao núng phán rằng: Công Chúa mang tội bất hiếu nên bị cọp tha mất xác cho đáng kiếp.

Công Chúa Diệu Thiện bất tỉnh, hồn Công Chúa thấy một vị Sứ giả mặc áo xanh, tay cầm tờ giấy nói rằng: Diêm Vương mời nàng xuống Diêm Cung để xem các cảnh khổ não và những hình phạt nặng nề những linh hồn mà trong kiếp sanh đã làm nhiều điều ác độc.

Thập Điện Diêm Vương cũng muốn nghe nàng thuyết pháp. Công Chúa vâng lịnh, dùng tâm từ bi và sức thần thông thuyết pháp cho 10 vua nghe, các tội hồn trong ngục cũng được nghe và liền giác ngộ. Trong phút chốc, chốn U Minh thành Lạc Cảnh, và các tội hồn đều được thoát ra khỏi ngục, đầu kiếp trở lại cõi trần.

Thấy các cửa ngục đều trống trơn, Thập Điện Diêm Vương vội đưa hồn Diệu Thiện trở lại dương thế và cho nhập vào xác. Nàng tỉnh dậy, thấy mình đang nằm giữa rừng vắng vẻ, không biết phải làm sao và đi phương nào.

Đức Phật Nhiên Đăng hiện ra trên mây, bảo nàng hãy đi ra biển Nam Hải, đến núi Phổ Đà, tu hành thêm một thời gian nữa thì sẽ đắc đạo, đạt vị Như Lai. Muốn đi đến đó, phải trải qua 3000 dặm đường. Đức Phật Nhiên Đăng lại tặng cho nàng một trái Đào Tiên, ăn vào không biết đói khát trọn năm mà còn được trường sanh bất lão.

Nàng Diệu Thiện nhận lãnh và bái tạ Đức Phật, đoạn nàng tìm đường đi đến Nam Hải. Thái Bạch Kim Tinh hiện xuống, truyền cho Thần Hoàng biến ra Thần hổ, cõng Diệu Thiện đến Phổ Đà Sơn cho mau lẹ. Tại Phổ Đà Sơn, nàng Diệu Thiện tu thiền định trong 9 năm, đạo pháp đạt được cao siêu trở thành Đức Quan Âm Nam Hải.

Từ khi vua Linh Ưu ra lịnh giết chết Diệu Thiện, và Diệu Thiện được Thần Hoàng cứu thoát, nhà vua mắc một chứng bịnh nan y vô cùng khổ sở, thân thể nhà vua bị lở loét ngoài da cùng mình, mùi hôi thối xông ra nồng nặc, nhức nhối đau đớn vô cùng. Nhiều danh y tới điều trị mà bịnh vẫn không thuyên giảm chút nào.

Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ở Nam Hải hay biết việc đó, nên Ngài hóa ra một vị sư già, đi đến kinh thành xin vào trị bịnh cho vua Linh Ưu. Sau khi xem mạch vua, vị sư già tâu: Bịnh của Bệ hạ do oan nghiệt nhập với chất độc cao lương mỹ vị và tửu nhục hằng ngày, nên phát sanh ra ngoài da thành bịnh nan y. Nếu muốn chữa lành thì phải có đôi mắt và đôi cánh tay của một người con thì mới chế thuốc được.

Nghe vậy, nhà vua cho đòi hai Công chúa Diệu Thanh, Diệu Âm và hai Phò mã đến, rồi nhà vua lập lại lời nói của vị sư già, hỏi xem có đứa con nào dám hy sinh để trị bịnh cho vua cha không?

Hai Công chúa cùng tâu: Xin Phụ vương đừng nghe lời ông sãi mầm nầy, bởi vì một người bị khoét đôi mắt và bị chặt hết hai tay thì dù có sống cũng chẳng ra chi. Chẳng lẽ cứu bịnh một người mà lại hủy hoại một người khác hay sao?

Vua Linh Ưu chợt nhớ tới Công chúa Út là Diệu Thiện, liền than: Nếu Diệu Thiện còn sống thì Trẫm ắt lành bịnh, vì Diệu Thiện sẽ hy sinh cho Trẫm.

Vị Sư già liền tâu: Tâu Bệ hạ, Bần tăng biết rõ Công chúa Diệu Thiện hiện vẫn còn sống, ở tại núi Phổ Đà, biển Nam Hải. Xin Bệ hạ cho người đi đến đó, tìm Công chúa thì may ra chế được thuốc cho nhà vua. Bần tăng xin để thuốc lại đây, khi nào có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện đem về thì nhập với thuốc nầy, nấu chung lại, rồi trong uống, ngoài thoa, bịnh của Bệ hạ sẽ hết ngay. Vị Sư già nói xong thì từ giã nhà vua trở về núi.

Vua Linh Ưu rất mừng, liền cho sứ giả sắp đặt hành trang lên đường đi Nam Hải, tìm Công chúa Diệu Thiện. Khi sứ giả đến được Phổ Đà Sơn thì gặp một đồng tử bưng ra một cái mâm phủ vải trắng còn thấm máu tươi, trong đó có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện, đem ra trao cho sứ giả và nói: "Đây là đôi mắt và hai cánh tay của Công chúa Diệu Thiện, sứ giả hãy mau đem về chế thuốc trị bịnh cho vua."

Hoàng Hậu khi nhìn thấy sứ giả đem đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện về, còn dính máu tươi thì òa lên khóc mướt. Thị vệ liền đem nấu với thuốc do vị Sư già để lại, cho nhà vua uống phân nửa, còn phân nửa để thoa lên khắp mình mẩy, phút chốc, thân thể nhà vua lành lặn như xưa, hết đau nhức, mà lại còn cảm thấy khỏe khoắn hơn trước.

Vua Linh Ưu và Hoàng Hậu cảm mến ơn nghĩa của Diệu Thiện, nên quyết định đi ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình, gặp không biết bao nhiêu nguy hiểm, nhưng đều được Quan Âm Bồ Tát dùng thần thông cứu khỏi.

Đến nơi, vua Linh Ưu và Hoàng Hậu thấy một vị Bồ Tát đang ngự trên tòa sen, nhưng mất cả hai cánh tay và hai con mắt. Vua biết đó là Công chúa Diệu Thiện, con của mình, nên vô cùng xúc động, nhớ lại mà ăn năn sám hối lỗi lầm, rồi đồng quì xuống cầu nguyện cùng Trời Phật xin cho Công chúa được lành lặn như xưa.

Sự thành tâm cầu nguyện của vua và Hoàng Hậu có kết quả, Bồ Tát Diệu Thiện liền hiện hào quang với ngàn tay và ngàn mắt. Lúc ấy, vua và Hoàng Hậu đều giác ngộ, quyết rời bỏ điện ngọc ngai vàng, đem mình vào chốn Thiền môn, lo tu hành cầu giải thoát."

"Một chi tiết thú vị khác là thánh địa Phổ Đà Sơn, chốn bồng lai tiên cảnh ấy không chỉ có một, mà hiện hữu ở cả ba vùng đất nơi Phật giáo phát triển rực rỡ huy hoàng: Ấn Độ – Trung Quốc – Việt Nam. Cả ba ngọn núi ấy cùng chung một cái tên, ở Ấn Độ là Potalaka (Nam Ấn, thuộc tiểu bang Tamil Nadu), ở Trung Quốc là Phổ Đà Sơn (Chiết Giang), ở Việt Nam là núi Phổ Đà thuộc khu di tích Hương Sơn, chùa Hương, Hà Nội."



Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

Chúng ta hãy đến với nhau như những Linh Hồn

Cảm động trước lá thư ngỏ của em Diệu gửi cho nhóm MF Sài Gòn. Xin phép em được post ở đây để lưu lại như lời dặn dò, sách tấn cùng nhau tu tập trên đường Đạo.


Gửi các bạn đồng môn!

Thứ bảy tuần tới (23/02/2018) sẽ là ngày họp nhóm đầu tiên của nhóm MF Sài Gòn. Mình có đôi lời ngỏ để bày tỏ với các bạn. Cá nhân mình rất vui mừng vì từ đây mình sẽ bắt đầu một hành trình mà ở đó có những người bạn đồng hành cùng chung sức để trở thành vận hà của Ánh Sáng và Tình Thương. Dù cho chúng ta ở độ tuổi khác nhau, sinh trưởng trong những hoàn cảnh khác nhau và làm việc trong các lĩnh vực khác nhau, nhưng khi cởi bỏ lớp vỏ phàm ngã này thì chúng ta là một Linh Hồn duy nhất. Một Linh Hồn biểu hiện qua mọi hình thể, mỗi hình thể chúng ta mang đều biểu lộ một mục đích nào đó của Linh Hồn. Đối với những môn sinh tầm đạo như chúng ta, phàm ngã vẫn còn những điểm bất toàn, nhưng điểm bất toàn đó không nói lên điều gì cả ngoại trừ đó là phần gồ ghề của hình thể mà Linh Hồn muốn gọt giũa. Nói như vậy để mình muốn khẳng định rằng, đối với mình tất cả chúng ta là một, không có sự chia rẽ nào của phàm ngã có thể làm thay đổi suy nghĩ đó. Trong ngày hội ngộ đầu năm, bác Trai đã nói rằng “chúng ta hãy đến với nhau như những linh hồn”, mình thấy nó thực sự có ý nghĩa khi chúng ta cùng hoạt động trong một nhóm. Mong cho nhóm chúng ta sẽ bền bỉ duy trì sinh hoạt thường xuyên, cùng nâng đỡ nhau và trở thành một tụ điểm năng lượng để giúp lan tỏa Ánh Sáng và Tình Thương trên thế gian.

Mình xin chép lại 6 quy luật trên Đường Đạo làm nền tảng để duy trì tinh thần cho tất cả chúng ta:

1. Mỗi người tiến trên Đường đạo trong ánh sáng thanh thiên bạch nhật, tỏa chiếu trên Đường bởi những Vị hướng đạo hiểu biết. Bấy giờ hành giả không thể che giấu điều gì, và đến mỗi khúc quanh trên Đường Đạo y phải đối diện với chính mình.

2. Trên Đường Đạo, những điều che giấu được phô bày. Mỗi người thấy và biết điều quấy của mình. Thế nhưng, sự phô bày đó không khiến họ lùi bước, bài bác lẫn nhau, hoặc chao đảo trên Đường Đạo. Đường Đạo trở nên sáng tỏ.

3. Trên Đường Đạo hành giả không đi lang thang một mình. Không có gì hấp tấp, hay vội vàng. Và cũng không có thời gian bỏ phí. Hiểu được điều này, mỗi khách hành hương dấn bước tiến lên, và thấy quanh mình có các bạn đồng hành. Một số tiến phía trước; y theo sau. Một số đi sau; y dẫn lối. Y không tiến bước một mình.

4. Khách hành hương phải tránh ba điều. Đội mũ trùm đầu, hoặc dùng mạng che mặt không cho người khác thấy; mang theo bình nước chỉ đủ cho mình dùng; vác trên vai chiếc gậy không có móc để cầm giữ.

5. Mỗi Khách hành hương trên Đường đạo phải mang theo những gì y cần: một bầu lửa, để sưởi ấm các bạn đồng hành; một ngọn đèn với những tia sáng chiếu ra từ tâm của mình và cho các bạn đồng hành thấy bản tính sự sống ẩn tàng nơi mình; một túi vàng, y không vung vãi trên Đường, mà để chia sẻ cho người khác; một chiếc bình niêm kín, trong đó y mang theo toàn cả tâm nguyện của mình để đặt dưới chân Đấng đang chờ chào đón y ở cửa Đạo – một chiếc bình niêm kín.

6. Khi dấn bước trên Đường, Khách hành hương phải có tai nghe tỏ rõ, bàn tay giúp đỡ, chiếc lưỡi im lặng, tâm hồn tự chủ, tiếng nói vàng, chân nhanh nhẹn, mắt rộng mở đón nhận ánh sáng. Y biết mình không độc hành.

Chúc mọi công tác của nhóm sẽ thành công tốt đẹp!

Sài Gòn 14.2.2019
Ngọc Diệu




Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Ba cấp độ tu tập trong Phật giáo



Buổi chia sẻ của Sara "View, Meditation and Action in Buddhism", 4.11.2018
"Sara Finnerty sinh năm 1971 tại Hoa Kỳ. Cô đã theo Phật giáo Kim Cương Thừa từ năm 1991. Cô đã gặp Lama Ole Nydahl khi còn là một sinh viên đại học ở San Francisco.
Sara đã giúp thành lập và sống tại các trung tâm Phật Giáo Kim Cương Thừa trên toàn nước Mỹ từ năm 1993, ở California, Texas, New Mexico và hiện đang ở Nevada. Theo yêu cầu của Lama Ole, cô đã đi giảng dạy Phật giáo Kim Cương Thừa từ năm 2015. Hiện tại, cô sống ở Las Vegas, Nevada và Seattle, Washington." ~ Saigon Gompa
Tối hôm qua được gặp lại nhóm các bạn Saigon Gompa và đi dịch cho bài nói chuyện của Cô Sara Finnerty. Buổi nói chuyện được tổ chức trong một phòng nhỏ Cà Phê Trung Nguyên trên đường Võ Văn Tần.

Mình có dịp được ôn lại và hệ thống hóa những gì đã tìm hiểu về Phật Pháp trước đây từ bài giảng của cô. Cô thật trẻ trung và ấm áp so với tuổi 47 của mình. Cô gợi nhớ cho mình rất nhiều đến Kelly, cũng gần trạc tuổi cô. Kelly và Sara, hai người phụ nữ xinh đẹp với trái tim nồng ấm và tấm lòng của Bồ Tát. Dù chỉ mới gặp nhưng Cô đã tạo cho mình những cảm giác rất tin tưởng, dễ chịu, bởi cô luôn động viên, khuyến khích và bảo mình đừng lo lắng, hãy “have fun”, vui vẻ và thoải mái.

Mình tóm tắt lại theo trí nhớ những điểm quan trọng trong bài nói của cô tối qua. Điều cô nói được Đức Phật giảng ngắn gọn mà tinh túy trong Kinh Pháp Cú: "Không làm các điều ác (1), Siêng làm những điều lành (2), Giữ tâm ý trong sạch (3)."

Người ta nói rằng Đức Phật đã giảng 84 vạn pháp môn tùy theo căn cơ của mỗi người.

3 cấp độ trong Phật Giáo

Cấp độ đầu tiên 
Cấp độ đầu tiên Đức Phật nói với những người tìm đến Ngài vì quá đau khổ và xin Ngài chỉ dạy cách thoát khỏi khổ đau. Đức Phật đã nói về Nghiệp và Nhân Quả (Karma và Causality). Trong tiếng Phạn, Karma có nghĩa là Action - Hành động. Tất cả những “hành động” của thân, khẩu, ý đều dẫn đến những tác động hay hệ quả nào đó. Nhận thức được điều này chúng ta hiểu rằng chính mình chịu trách nhiệm cho cuộc đời của mình. Chính mình là người kiến tạo nên tương lai của mình bằng những hành động của ngày hôm nay. Không có Vị Chúa nào phán xét chúng ta, hay Định Mệnh quyết định cuộc đời ta. Với ý thức đó, ta không còn đổ lỗi cho số phận, cho hoàn cảnh, cho chính phủ….

Khổ, Vô Thường, Vô Ngã

Vậy thì làm thế nào để thoát khỏi khổ đau trong đời sống? Đức Phật đã đưa ra 10 lời khuyên, trong đó có 3 lời khuyên về thân, 4 lời khuyên về khẩu và 3 lời khuyên về ý (tâm thức) giúp con người chuyển hóa khổ đau, hướng tới đời sống hạnh phúc.

Ba lời khuyên về thân:
  • Không sát sinh, không giết hại sự sống. Thay vào đó, hành động tích cực là trân trọng, bảo vệ sự sống, mở rộng lòng từ bi với tất cả mọi chúng sinh. 
  • Không lấy những gì không thuộc sở hữu của mình, và người ta không cho mình, không trộm cắp. Thay vào đó, thực hành bố thí, quảng đại (generosity), rộng lượng giúp đỡ người khác.
  • Không tà dục. Thay vào đó, giữ gìn tịnh hạnh, bảo vệ hạnh phúc gia đình của mình và của những người khác, mang lại niềm vui, hạnh phúc đến cho người khác.

Bốn lời khuyên về lời nói (khẩu nghiệp):
  • Không nói dối với ý định làm hại người khác. Thay vào đó, nói lời chân thật, khiến người khác có thể tin tưởng mình.
  • Không nói lời thêu dệt, ngồi lê đôi mách (gossip). Thay vào đó, nói những lời động viên, khích lệ, ngợi khen chân thành những phẩm chất tốt đẹp của người khác.
  • Không nói lời gây chia rẽ, mất đoàn kết. Thay vào đó nói những lời tạo nên sự hòa thuận trong tập thể, góp phần làm cho mọi người vui vẻ, tăng tình thân ái, đoàn kết.
  • Không chửi thề, không nói lời thô tục, hung ác, không chửi mắng, chỉ trích làm cho người nghe hổ thẹn, khổ đau. Thay vào đó, nói lời dịu dàng, thanh nhã, khiến mọi người ai cũng hoan hỷ, tin tưởng và quý mến mình.
Ba lời khuyên về tâm ý (mind):
  • Không sân hận, thù ghét, giận hờn. Thay vào đó thực hành từ bi, yêu thương mọi chúng sanh, thực tập nhẫn nại trước khó khăn, nghịch cảnh.
  • Không tham lam những hình tướng vật chất bên ngoài. Muốn như vậy phải hiểu được Vô Thường. Hiểu được mọi thứ bên ngoài có sinh có diệt, luôn biến đổi, không thường hằng. Không có cái tôi độc lập, mà luôn tùy thuộc vào những điều kiện nhân duyên. Hiểu rằng không có cái gì là của tôi...
  • Không si mê, không bối rối. Bối rối, si mê vì chưa hiểu được lý vô thường vô ngã. Muốn vậy cần thực tập thiền, cần tách ra khỏi suy nghĩ, cảm xúc của chính mình, trở thành người quan sát, nhận biết nó, không bị cuốn theo nó. Nhận ra mình không phải là những gì mình trải nghiệm (experiences) mà chính là người trải nghiệm (experiencer). [Mắt thấy nhưng không nhìn thấy được chính mình.] 
Người đời tham, sân, si vì bám víu vào những điều kiện bên ngoài, ngỡ đó là cội nguồn của hạnh phúc trường tồn, và bám chấp vào bản ngã, cái tôi, mà không biết nó mang hương vị khổ đau.
Động lực để mọi người hành động đều là để được hạnh phúc.

Bước cơ bản đầu tiên trong thực hành thiền là việc tập trung định trí. Ta có thể dùng hơi thở để neo lại tâm ý, không cho nó chạy lăng xăng. Cứ thư giãn, chỉ nhận biết, không phán xét, phân tích, để suy nghĩ, cảm xúc trôi qua như những đám mây đến rồi đi. 

Thiền không phải là làm cho không còn suy nghĩ bởi vì điều đó là không thể.

Cấp độ thứ hai - Con Đường Bồ Tát

Cấp độ này dành cho những người mong muốn thực tập giải thoát vì lợi ích của mọi chúng sanh. Đức Phật khuyên họ tu tập Bồ Tát Đạo. 

Sáu pháp tu của Bồ Tát - Lục Độ Ba La Mật
Sáu pháp tu đưa chúng ta vượt ra ngoài sự bám chấp vào cái tôi bản ngã. (Bring us beyond the fixing on our ego).
  • Generosity - Bố thí, độ lượng, quảng đại
  • Meaningful behaviors - Trì giới. 
  • Tinh tấn - Joyful efforts - Toàn tâm toàn ý, chú tâm hoan hỷ. Put the best of yourself to what you are doing.
  • Nhẫn nhục - Nhẫn nhục trước những khó khăn, nghịch cảnh, trước những người khó chịu. Hiểu rằng ai cũng như mình, cũng có những nỗi khổ riêng, cũng muốn mưu cầu hạnh phúc.
  • Thiền định - Meditation: Dù bốn điều trên đưa chúng ta ra khỏi sự bám chấp vào cái tôi. Nhưng điều thực sự có thể mang lại bốn điều trên lại chính là tham thiền. Chỉ có thông qua tham thiền, chúng ta mới gia tăng sức mạnh nội tại để thực hành tốt những điều trên.
  • Trí tuệ - Wisdom. Trí tuệ hiểu về chân lý, nhân quả, vô thường, vô ngã.
Thực hành: sống trong đời như những Vị Bồ Tát thành tựu 6 ba la mật trên, vì lợi ích của mọi chúng sinh. Tham thiền.

Cấp độ thứ ba - Kim Cương Đạo - Đồng nhất với tâm thức của Phật

Đức Phật giảng pháp này cho những người nhìn thấy sự tỏa rạng chiếu sáng, bình an phúc lạc của Ngài và tin tưởng rằng mình cũng có bản chất đó, cũng có thể có được sự giác ngộ, tỏa sáng đó. Sự hiện diện của Đức Phật khiến cho tất cả những ai xung quanh Ngài cũng cảm thấy được bình an, hạnh phúc, hứng khởi, hướng thượng, lợi lạc cho tất cả chúng sinh.

Hiểu rằng bản chất tinh túy của chúng ta là Phật tánh, là nhận thức, là tâm thức không thể bị hủy diệt, tràn ngập phúc lạc, bình an, không sợ hãi. 

Thực hành thiền: Đồng nhất hóa hình ảnh Vị Phật vào trong chính chúng ta. 

Hằng ngày trong cuộc sống: xem mình như một vị Phật, sống với những phẩm tính của Đức Phật, với Từ Bi, Trí Tuệ, Nhẫn Nại, Vô Úy, Hoan Hỷ, hiểu được chân lý, tự tin vào sức mạnh của bản thân kiến tạo cuộc đời, sống với sự tự tại, bình an, hoan hỷ, vô úy, ngập tràn phúc lạc.  





Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Cõi trần ảo mộng

...Khi thiền xong em lại có cảm giác trần gian chỉ là mộng ảo và muốn đạt được trạng thái an lạc không vướng bận buồn vui nhân gian. Không biết đây có phải vấn đề gì không tốt không ạ? 

Em thân mến, khi mình tham thiền rồi đạt được trạng thái an lạc, đó là điều tốt, bởi đó cũng là một trong những hiệu ứng mong muốn của chúng ta khi ngồi thiền. Tham thiền mang lại rất nhiều lợi ích và tác dụng chữa lành cho cả ba thể thấp, sức khỏe cho thể xác, làm ổn định thể tình cảm và bình tâm cho thể trí. Tuy nhiên, với tham thiền huyền môn, mình sẽ còn cần phải đi xa hơn thế nữa, chứ không chỉ kẹt lại hay dừng ở trạng thái hỷ lạc đó. Tham thiền huyền môn còn là công việc xây dựng chiếc cầu nối giữa phàm ngã với linh hồn, để ánh sáng của linh hồn có thể qua đó mà khai sáng, mở rộng tâm thức của chúng ta, khiến chúng ta ngày càng thêm tỉnh thức, minh triết và bác ái. 

Việc em cảm thấy trần gian chỉ là mộng ảo cũng có nhiều phần chân lý trong đó, bởi cõi hồng trần vốn vô thường, mọi sắc tướng vốn không hiện hữu (hay có tự tính) riêng biệt mà chúng dựa trên sự tương tức, tương liên lẫn nhau, dựa vào nhiều điều kiện (duyên) mà hình thành hay hoại diệt. Việc hiểu được vô thường, không dính mắc quá vào thế giới vật chất của cõi hồng trần và hướng thượng đến những lĩnh vực tinh thần cao cả hơn là rất tốt. Tuy nhiên, cũng không cần quá cực đoan mà hãy giữ sao cho mình đi trên con đường cân bằng, con đường Trung Đạo. “Be in the world but not of the world”, sống trong thế giới nhưng không thuộc về thế giới. Nhận ra rằng chúng ta là những thực thể tinh thần thiêng liêng nhưng cũng trân trọng những trải nghiệm của phàm ngã trên cõi hồng trần, bởi chúng là cần thiết và quan trọng cho sự tiến hóa. Cho dù biết đó là một cuộc dạo chơi, thì cũng hãy chơi hết mình, bởi cõi hồng trần chính là nơi cho chúng ta thực hành, rèn luyện và học những bài học quý giá để phát triển. 

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Làm sao để biết một việc có nên làm hay không?

Làm sao nhận biết một việc là có nên làm hay không?

Khi em càng thực hành tu tập nhiều thì tâm thức em càng được hòa nhập nhiều với linh hồn, em càng nhạy cảm với tiếng nói bên trong, tiếng nói của lương tri và tự nhiên em sẽ biết được việc mình làm có phải là đúng.

Ngoài ra, em có thể dùng 3 tiêu chí (ba bộ lọc) sau, nếu việc mình làm đáp ứng được đủ cả 3 tiêu chí sau thì em biết rằng mình có thể tiếp tục:

(1) Việc đó không gây hại cho chính bản thân mình 
(2) Việc đó không gây hại cho những người khác
(3) Việc đó không gây hại cho thiên nhiên, môi trường.

Như vậy, nếu việc làm nào của mình mà vừa đem lại lợi ích cho bản thân, cho người khác, và cho thiên nhiên, môi trường thì việc đó là việc rất rất nên làm. 

Làm sao để định trí?

Tâm trí thường suy nghĩ miên man khi ngồi tĩnh lặng cũng là chuyện bình thường như người ta hay nói “tâm viên ý mã”. Do đó mình mới cần thực tập thiền định. Ban đầu chưa quen mình có thể dễ bị miên man, nhưng không sao cả, cứ mỗi lần miên man mà mình nhớ ra quay về với bản thân và hiện tại là tốt rồi. Mình có thể miên man rồi nhớ quay về lại như vậy cả ngàn lần cũng không sao hết. 

Mình cứ thực tập đều đặn rồi dần dần việc định trí sẽ ngày càng hoàn thiện và dễ dàng hơn. Em nhớ thư giãn và thả lỏng, càng thư giãn và thả lỏng thì mình lại càng dễ tập trung và định trí lâu mà không bị mệt mỏi hay căng thẳng.

Em có thể dùng hơi thở như chiếc neo để giúp mình định trí trong hiện tại. Trong những công việc hằng ngày, em cố gắng duy trì chánh niệm tỉnh giác, tức là chú tâm vào từng việc mình làm, tỉnh giác và quán sát từng cảm xúc, suy nghĩ khởi sinh, những thay đổi cơ thể của mình, tách mình ra làm người lặng lẽ quan sát chính bản thân mình. 




Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

Saigon Gompa và dòng truyền thừa Karma Kagyu


07.09.2018 Buổi nói chuyện của anh Detlev về "Thiền trong đời sống hiện đại" được tổ chức bởi nhóm Saigon Gompa - the Diamond Way Buddhism

Hai tuần trước tình cờ qua Mi giới thiệu mà mình đi dịch cho buổi nói chuyện của anh Detlev về "Thiền trong đời sống hiện đại". Anh Detlev là người Đức, làm việc cho BMW, nhân dịp nghỉ phép anh cùng vợ đi du hành mấy nước châu Á kết hợp với việc chia sẻ về Phật pháp. Anh đã biết đến Phật pháp từ những năm hai mươi mấy tuổi và đã có hơn 30 năm học tập và thực hành cùng với Thầy Lama Ole Nydahl. 

Sau buổi nói chuyện với nhóm đông khán giả công chúng thì hai ngày cuối tuần kế đó là những ngày học chuyên sâu hơn cùng với nhóm nhỏ Saigon Gompa tại nhà anh Torsten. Mình nhớ ngày xưa hình như có lần đã đi nghe một buổi workshop do nhóm Saigon Gompa tổ chức tại khách sạn Sen Việt trên đường Cao Thắng, cũng về Phật giáo Tây Tạng. Lần đó chưa có ấn tượng gì mấy. Rồi bẵng đi một thời gian mấy năm qua. Cuộc hội ngộ lần này thực ra là hoàn toàn mới, những người bạn mới. Mọi người ai cũng thân thiện, dễ thương. Họ là một nhóm nhỏ chỉ khoảng chừng chục người, gần một nửa là người nước ngoài, thực tập cùng nhau mỗi tối thứ tư tại nhà anh Torsten. Mỗi người đều có những cái hay và thú vị. Nhờ đó mà mình mới biết thêm những lĩnh vực ngành mới mà các bạn đang làm, như Biotherapy của Trà Ngân, hay Systemic Constellation của anh Torsten... 

Mình được tặng cuốn "Chết không sợ hãi" do các bạn trong nhóm dịch, của Lama Ole Nydahl. Mình mua thêm cuốn sách "Theo Chân các Đạo Sư Tây Tạng" của Lama và say sưa đọc hết một lèo chỉ trong một buổi sáng. Mình được truyền cảm hứng từ Ông và các bạn để giờ mỗi ngày đang thực hành lễ lạy năm vóc sát đất. Mình bắt đầu tập từ ngày 18.9, với 20 lần một ngày, chắc còn lâu mới đến 111111.  Nghĩ đến các bạn tập 200 cái một ngày hay có những bạn tu tập toàn thời gian đến 3000 cái một ngày mà ngưỡng mộ. Chừng nào đạt mốc sáu số 1 đó mình sẽ ăn mừng, hihi, và dự định là sẽ vẫn tiếp tục duy trì thực hành cả sau đó. Đó là một bài tập vừa tốt cho sức khỏe thể chất, vừa tốt cho cả việc tu luyện thân, khẩu, tâm ý, làm giảm bớt bản ngã và loại bỏ những nghiệp xấu tích lũy của quá khứ và tất cả những bất thiện nghiệp. Mình thấy khỏe và đầu óc sáng suốt ra hẳn sau mới vài ngày tập...

Mọi chuyện không gì là ngẫu nhiên và mình cảm thấy cuộc gặp gỡ này có thật nhiều ý nghĩa tâm linh. Nó giúp mình xác nhận thêm về một số điều mình đã từng băn khoăn. Mình hiểu thêm về lịch sử Phật giáo Tây Tạng với bốn trường phái Kim Cương Thừa chính hiện nay là Gelugpa (Ngài Đạt Lai Lạt Ma, vị Tổ là Tsongkhapa, hóa thân của Đức Văn Thù Bồ Tát), Nyingmapa, Kagyupa và Sakyapa. Học một tông phái là sẽ hiểu được mọi tông phái [Một câu châm ngôn Tây Tạng nói rằng khi bạn ném một bông hoa vào mạn đà la, nó rơi vào vị thần nào thì vị ấy là của bạn. Bất cứ tông phái nào bạn gặp đầu tiên và nhận được giáo huân từ đó sẽ rất quan trọng với bạn]. Mỗi trường có đặc tính chuyên biệt riêng.  Như trường Gelugpa thiên về đào tạo ra các học giả, kinh viện, còn trường Kagyupa hay dòng truyền thửa Karma Kagyu tập trung vào việc thực hành nhiều. Dòng truyền thừa Karma Kagyu là một trong những dòng truyền thừa lâu đời nhất ở Tây Tạng, đứng đầu là các Đức Karmapa tái sinh. Lama Ole Nydahl là học trò của Đức Karmapa thứ 16. Và hiện nay là Đức Karmapa thứ 17, Ngài có một người vợ xinh đẹp và họ vừa có con cách đây khoảng một tháng.

Dòng truyền thừa Karma Kagyu tiếng Việt gọi là Ca Nhĩ Cư (dòng khẩu truyền, nhĩ truyền) với vị Tổ là Marpa, cũng là vị Thầy của Đức Milarepa. Cuộc đời của Milarepa là một câu chuyện thú vị và cảm động về sự chuyển hóa, Ngài được xem như vị hành giả vĩ đại nhất Tây Tạng. Câu chuyện của Ngài dạy chúng ta bài học về sự khiêm tốn, việc tỉnh giác về sự vô thường và cái chết.

Tam Bảo trong Phật Giáo: Phật, Pháp, Tăng, thì trong Kim Cương Thừa hay Mật Thừa, vai trò của Vị Thầy là rất quan trọng. Đối với người Tây Tạng, đây là yếu tố cần thiết thứ tư cho sự giác ngộ. "Trạng thái giác ngộ của người Thầy sẽ là cầu nối giữa người học trò với Phật. Vị Thầy là biểu hiện của sự thống nhất bao hàm cả ba yếu tố Tam Bảo."

Giác ngộ là sự nhận biết được bản chất chân thật của tâm thức, vô tận, trong sáng và rộng mở, vô úy, tràn đầy niềm vui, tình thương và sức mạnh của nó vượt ra khỏi mọi trí tưởng tượng.

Có một số đoạn trong sách mình thấy hay nên chép lại ở đây.

Về Karma: Đối với một bậc đã giác ngộ thì nghiệp là không gian tự do để vận dụng nhưng đối với những chúng sinh bình thường, nó là một chuỗi nguyên nhân và kết quả. Nó theo họ vì sự vô minh và nó đặt ra một thế giới có điều kiện. Nghiệp mà bạn trải nghiệm là một dấu ấn liên tục được tích tụ của đời này và muôn kiếp trong quá khứ. Nếu không được gột rửa hay chuyển hóa, những dấu ấn này sẽ phát triển bẳng chính sức mạnh của chúng.

Với phương pháp của Phật giáo Đại Thừa, những chúng sinh có lòng yêu thương lớn lao có thể thẩm thấu và thay đổi nghiệp xấu của người khác. Họ không chỉ loại bỏ những tác hại, sự khổ đau mà còn loại bỏ cả những nguyên nhân cơ bản gây ra khổ đau, sự vô minh.

Một người chỉ cần nhận ra một phương pháp để tới được giác ngộ, giống như chỉ cần ăn một đĩa là bạn đủ no. Dù một nhà hàng tốt có thể có nhiều món.

Về lễ khai tâm - điểm đạo: Bằng sự tập trung, với những pháp khí thực hiện nghi lễ, người thầy sẽ kích hoạt một phần tâm thức Phật vô biên và truyền trao nó cho đệ tử. Kết quả là hành giả có thể trải nghiệm cả tự thân và thế giới ở mức cao hơn cho tới khi mọi hoạt động trở nên tự nhiên và không cần nỗ lực. 

Hành giả nên kiên trì theo đuổi dòng truyền thừa nào mà mình thấy thích hợp nhất và không bao giờ có ý nghĩ rằng những dòng truyền thừa khác là thấp kém hơn mình.

Về vấn đề chữa bệnh: "Hãy làm tất cả những gì có lợi mà con có thể làm cho người khác và đừng bao giờ nghĩ về bản thân con."

...Để phá tan cái tôi, sự ngã mạn thì cần phải có một thứ thuốc nổ cực mạnh, và Karmapa thì có rất nhiều.

...Kim Cương Chùy là biểu tượng của Trí Bát Nhã, con đường dẫn tới đại giác ngộ.

"Karmapa Chenno": hiệu lực của câu chú này rất mạnh mẽ, và nó có nghĩa là "Người thực hành lời Phật dạy đang đến với tôi."

Om Mani Padme Hum: Vua của các mantra, là lời cầu nguyện của Đức Quán Thế Âm, biểu hiện tình thương yêu của tất cả các Vị Phật với chúng sinh và chuyển hóa phiền não thành trí tuệ; sự bám chấp và thù hận thành bản chất tự nhiên tốt đẹp của tâm.

Mật Thừa sử dụng thần chú để cam kết làm những điều tốt đẹp.

Mahakala (Đại Hắc Thiên): một trong những vị thần hộ pháp của Tây Tạng. Sức mạnh của vị ấy là để chinh phục những điều xấu và năng lượng vô biên của Ngài là để phá hủy những cảm thọ phiền não bên trong, cũng như những khó khăn bên ngoài để chúng ta có thể trưởng thành. Ngược với vẻ bề ngoài, bản chất của vị ấy là tình thương của tất cả các Chư Phật.

Tulku nào thực sự là những người giữ được sự tỉnh thức về bản chất của tâm, thường sẽ là những bậc thầy siêu việt. 

Đại Thủ Ấn (Chagchen hay Mahamudra) chính là tự tính của mọi vật và tồn tại trong trạng thái tỉnh giác tại bất cứ thời gian, bất cứ nơi nào, đó là giác ngộ hoàn toàn.

Không điều gì có thể phá hủy nghiệp lành bằng sân hận.

















Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

Karma

Chị cho em hỏi là karma nếu muốn chấm dứt thì có những cách nào? Và có cách nào để thử nghiệm được hành động hiện tại là của karma cũ hay mới. 


Hi em, câu hỏi của em là một vấn đề LỚN đó nha. Đó là cả bài toán của việc thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử (samsara). Nó không đơn giản, nó chính là cả quá trình tu tập mà các tôn giáo hướng đến.

Vậy thì sao để biết được hành động hiện tại có tạo ra hay là đang trả cái trước? Ý em là thoát khỏi vòng luẩn quẩn như thế nào khi mà mỗi kiếp ngắn ngủi trả thì ít mà tạo ra thêm nhiều?

Vì nhân quả trùng trùng duyên khởi nên rất khó biết cái gì xảy đến cho ta là do nhân hay quả nào. Việc quan trọng là mình giữ được chánh niệm, mindful, tỉnh thức về mọi hành động của mình.

Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn như thế nào? Karma có thể hóa giải thông qua: phục vụ tha nhân (service), tham thiền để thanh tịnh hóa các chủng tử của nghiệp trong tâm thức, và trả quả trong đau khổ (suffering). Khi mình tham thiền thì trí tuệ phát sinh, giúp mình nhìn sâu vào các căn nguyên nghiệp quả và hóa giải các tập khí. Vì các chủng tử nghiệp được lưu giữ trong tâm thức, nên cốt lõi ở đây là làm thanh tịnh tâm thức thông qua thiền, quán sát thân tâm, cẩn trọng trong từng suy nghĩ và hành động của mình. Khi mình hành động với sự tỉnh thức thì mình không bị hành động theo tập khí của nghiệp lực và mình đang dần hóa giải nó.

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Phàm ngã và linh hồn

Việc nhận ra rằng linh hồn cần phàm ngã để biểu đạt chính nó là rất quan trọng. Phàm ngã biểu hiện linh hồn qua ba cõi thấp, cõi trần, cõi cảm dục và cõi hạ trí. Phàm ngã và linh hồn cần tích hợp với nhau và biểu hiện trong sự hợp nhất. Tuy nhiên, khi thúc đẩy bởi động lực tiêu cực, phàm ngã có thể cản trở Linh Hồn, khiến nó không đáp ứng với tiếng gọi bên trong hay tiếng gọi linh thiêng từ cõi cao hơn. Vì thế chúng ta có thể trải nghiệm cuộc chiến liên tục bên trong giữa phàm ngã và linh hồn (tình thương vô kỷ, từ bi, minh triết).

Bởi vì sự hướng đến bên ngoài của phàm ngã khiến cho nó có thể ngày càng cách xa linh hồn. Và rồi linh hồn có thể tạo ra những khủng hoảng có mục đích để tái định hướng và thức tỉnh phàm ngã, giúp nó sống với sự hiểu biết lớn hơn.

Khi chúng ta càng hợp nhất với linh hồn càng nhiều thông qua việc bồi dưỡng phẩm tính của phàm ngã, sống với chánh niệm tỉnh thức và tham thiền, chúng ta sẽ tiến triển về tâm linh.

Như thế, từng chút từng chút một, linh hồn ảnh hưởng lên phàm ngã và chúng ta thấy thói quen thay đổi, phẩm tính tốt, thiện chí và tinh thần phụng sự ngày càng nhiều khi càng cảm nhận được ảnh hưởng của linh hồn.